ĐĐọc Truyện
Đặc Vụ Cổ Đại

Chương 19: Phiên Kiểm Tra

Thị lang Bộ Binh Đàm Chương bước xuống kiệu như một người đang đến dự yến tiệc.

Ông ta ngoài năm mươi, gầy, áo lụa màu chàm điểm hoa văn bạc, râu cắt tỉa sạch sẽ và nụ cười mềm. Sau ông ta là năm mươi hộ vệ mặc giáp nhẹ, và một người đàn ông lớn tuổi hơn, tóc bạc hoàn toàn, mặc áo xám đơn giản, nét mặt khô khan của người làm công việc ghi chép cả đời: tuần án Phùng Duy, đại diện của triều đình.

Tướng quân Trần Bình Hải đón họ ngay cổng, đúng nghi thức, không hơn không kém. Cuộc kiểm tra quân bị diễn ra suốt buổi sáng: kho vũ khí, chuồng ngựa, bãi tập, sổ quân số. Đàm Chương nói chuyện nhỏ nhẹ, khen ngợi, gật gù. Quân Hồ đứng ở cuối hàng tùy tùng của tướng quân, đã băng lại cánh tay, và nhận ra điều ông đã đoán đúng: Đàm Chương không nhìn kho vũ khí kỹ hơn nhìn đường đi. Ông ta chỉ đi, đếm bước, và đến mỗi ngã rẽ lại đưa mắt về một hướng.

Hướng của phòng thư tịch.

Đến chân giờ Ngọ, ông ta cuối cùng cũng nói.

“Tướng quân. Thư từ riêng là nơi dễ bị lãng quên nhất trong những cuộc kiểm tra. Có thể cho phép ta xem hòm thư của ngài không? Chỉ để thủ tục được đầy đủ.”

Tướng quân nhìn ông ta một lúc, rồi gật đầu. “Mời.”

Họ vào phòng thư tịch. Bà Cẩm đứng ở góc phòng, cúi đầu như một người thư lại bình thường. Hòm thư vẫn trên giá, khóa đồng sáng loáng. Một hộ vệ của Đàm Chương mở nó, nhấc lên hai tờ công văn, và dừng tay.

“Thưa Thị lang,” người đó nói, giọng vừa đủ lớn. “Ở đây có một thứ.”

Lá thư gấp ba, sáp đen đầu sói, được đưa lên cho Đàm Chương. Ông ta đọc, mắt chậm rãi di chuyển từ trên xuống, và Quân Hồ thấy vẻ mặt ông ta biến thành một vẻ bàng hoàng được dàn dựng hoàn hảo.

“Tuần án Phùng, xin ngài đọc.”

Phùng Duy cầm lá thư, đọc từng dòng. “Cảm tạ tướng quân Trần về sáu con ngựa chiến đã giao và lương thực đã đến, mong hợp tác mùa tới.” Ông ngẩng lên. “Thị lang cho rằng…”

“Rằng một võ tướng giữ ải phía bắc đang cấu kết với ngoại bang.” Đàm Chương nhắm mắt, thở ra như một người đau lòng. “Ta không muốn tin. Nhưng sáu con ngựa mất tích hai năm trước, sổ lương thực thất thoát, thư này… Tướng quân, xin ngài tạm giao kiếm cho tuần án.”

Nhiều người trong phòng nín thở. Tướng quân Trần vẫn đứng bất động, tay buông xuôi hai bên.

“Thưa tuần án,” một giọng nói cất lên, “xin cho phép tôi trình bày ba điều trước khi ai giao kiếm.”

Tất cả quay lại. Quân Hồ bước ra khỏi hàng, cúi người.

“Ngươi là ai?” Đàm Chương hỏi, chân mày hơi nhíu.

“Người phụ trách điều tra nội bộ của phủ.”

Phùng Duy nhìn ông, rồi nhìn Trần Bình Hải. Tướng quân gật đầu. Vị tuần án đặt lá thư xuống bàn.

“Nói.”

“Điều thứ nhất.” Quân Hồ chỉ vào lá thư. “Thư này nói về sáu con ngựa được giao từ hai năm trước, nhưng mực chưa thấm hết vào giấy, nghĩa là nó mới được viết trong vài ngày nay. Giấy lại là loại trắng, khác hẳn giấy công văn của phủ. Điều thứ hai, con dấu đầu sói này.” Ông ra hiệu, Thạch Tường mang vào một tay nải. “Tối qua, chúng tôi thu được ba khối gỗ khắc tại Phúc Thịnh Lương Điếm trong thị trấn. Xin tuần án đích thân thử.”

Phùng Duy lấy từ tay nải một khối gỗ cứng, mặt khắc ngược hình đầu sói. Ông được đưa một mẩu sáp đen ấm lửa, ép khối gỗ vào đó, nhấc ra. Rồi ông đặt dấu mới cạnh dấu trên lá thư.

Hai cái đầu sói khớp nhau như một cặp song sinh, kể cả ở vết lõm nhỏ bên tai trái.

“Điều thứ ba.” Quân Hồ chỉ sang Vũ Hải Đăng đang đứng nơi cửa. “Đêm qua, người em của Thị lang là Đàm Khuê bị bắt khi đang đặt lá thư này vào hòm. Có bốn người chứng kiến.”

“Ép cung!” Đàm Chương nói, giọng lần đầu bật cao hẳn. “Em ta chưa từng…”

“Chúng tôi chưa hỏi cậu ấy một câu. Cậu ấy không cần nói gì, và chúng tôi không cần cậu ấy nói.”

Phùng Duy nhìn Quân Hồ rất lâu. “Còn lệnh bí mật về sáu con ngựa?”

Bà Cẩm bước ra từ góc phòng.

Bà không còn cúi đầu. Bà đi giữa phòng, đứng trước bàn, trải tờ lệnh bí mật ra cạnh lá thư và nói, giọng vẫn chậm, nhưng đủ rõ để mỗi chữ đập xuống sàn.

“Thưa tuần án. Hai điểm li ti ở góc phải dưới tờ lệnh này là dấu kim của Mật Vụ Ty. Nhưng quy ước ấy đã bị bãi bỏ từ tám năm trước, sau vụ lộ ở biên giới phía bắc. Ngài từng giữ chức ở Hình Bộ hồi đó. Ngài có nhớ?”

Phùng Duy nhìn tờ lệnh, rồi giơ nó lên trước ngọn nến. Hai điểm sáng nhỏ xuyên qua giấy.

“Ta nhớ,” ông nói chậm rãi. “Chỉ một lỗ, ở góc trái trên, từ khi ấy.”

“Tờ lệnh này đề ngày hai năm trước. Chỉ người đã ngồi ở Ty từ trước vụ lộ ấy, và không bao giờ học được quy ước mới, mới tạo ra một dấu như thế.” Bà quay hẳn về phía Đàm Chương. “Hoặc người đó biết quy ước mới, và vẫn dùng quy ước cũ vì một thói quen không bỏ được.”

Mặt Đàm Chương trắng bệch, không phải vì sợ. Ông ta nhìn bà như nhìn một ngọn đèn vừa cháy lại trong phòng mà ông ta tưởng đã dập.

“Cẩm Y,” ông ta nói, khe khẽ. “Ngươi… đã chết.”

“Chết trong hồ sơ của ông, thưa Thị lang.” Bà đáp. “Tám năm. Hơi lâu một chút.”

Đàm Chương lùi nửa bước. Ông ta liếc ra cửa, và Quân Hồ nhìn theo: ở đó, đứng giữa đám hộ vệ, một người đàn ông mặc áo xám, nét mặt hoảng sợ, đang cố lùi vào sau lưng người khác.

“Người đó,” Quân Hồ nói, không nhìn ai khác, “đêm hôm trước đứng ở cuối hẻm Phúc Thịnh, nhìn cậu Đàm Khuê rời tiệm. Chủ tiệm đã khai sẽ nhận ra hắn.”

“Bắt họ!” Đàm Chương quát. “Cả phủ này thông đồng! Hộ vệ, bắt tất cả!”

Tiếng giáp lạch cạch. Năm mươi người rút đao cùng lúc.

Tướng quân Trần Bình Hải đã im lặng suốt buổi, nay mới lên tiếng, không quát, không nâng giọng.

“Thị lang,” ông nói. “Trên tường thành quanh sân này có ba trăm cung thủ của ta, và họ đã giương cung từ trước khi ngài đặt chân qua cổng. Năm mươi người của ngài đang đứng giữa sân. Ngài thử đếm xem.”

Phùng Duy bước lên một bước, giơ cao một tấm lệnh bài đồng thau nhỏ.

“Ta mang lệnh bài của Thiên tử,” ông nói. “Ai rút đao trong phiên kiểm tra này, ta ghi tên. Ai hạ đao trước, ta ghi tên khác.”

Đã có tiếng đao khẽ chạm đất. Rồi thêm một tiếng. Rồi cả năm mươi người lần lượt hạ vũ khí, lặng như người ra khỏi một cơn mơ.

Đàm Chương đứng giữa phòng, chiếc áo lụa chàm không còn nếp phẳng. Ông ta nhìn Phùng Duy, nhìn tướng quân, nhìn người phụ nữ mà ông ta từng đẩy ra cửa sổ tám năm trước.

“Thị lang Đàm Chương,” Phùng Duy nói. “Mời ngài ngồi. Ta có vài câu hỏi.”