Chương 16: Sáu Ngón Trước Cửa
Ba tuần sau ngày con Ngân Trảo đi vào rừng, phòng khám của Lâm Nhi đã khác hẳn lúc cô mới dọn vào.
Triệu Hùng dựng thêm một mái hiên nối liền với kho cũ, đủ rộng để chủ nhân đứng đợi mà không bị mưa hắt ướt. Tiểu Bình ngày nào cũng đến từ lúc gà gáy, quét sân, rửa chậu, xếp thảo dược lên phên theo thứ tự cô đã dạy, và mỗi sáng hỏi ít nhất mười câu, câu nào cũng mở đầu bằng hai chữ “Tại sao”. Linh vẫn chưa lên núi được. Chân bà sưng sau chuyến xuống làng, nên bà ở nhờ một gia đình quen cách đó hai con đường, sáng nào cũng chống gậy sang xem Lâm Nhi làm việc rồi chê cách cô cuộn băng.
Sáng hôm ấy sương xuống dày đến mức không nhìn rõ cây mận đầu ngõ. Lâm Nhi đang nhóm bếp thì nghe tiếng cào khe khẽ ngoài cửa, đều đặn, như có ai lấy móng tay gãi lên gỗ.
Cô mở cửa.
Con Ngân Trảo ngồi ngay bậc thềm. Nó gầy đi trông thấy, lông bạc xỉn bụi, bốn chân lấm bùn đỏ đến tận cổ chân. Dưới chân nó, đặt ngay ngắn trên tấm đá bậc cửa, là một cục lông xám cuộn tròn nhỏ hơn cả con mèo.
Lâm Nhi quỳ xuống. Cục lông động đậy, thò ra một cái mõm ngắn, và khi nó cố đứng dậy, cô thấy mỗi chân nó cũng có sáu ngón nhỏ xíu như hạt đậu. Chân sau của nó run bần bật, không đỡ nổi thân mình.
“Mang con đến cho tôi à?” cô hỏi con thú lớn.
Con Ngân Trảo không kêu. Nó đưa chân phải lên, giữ lơ lửng giữa không trung một nhịp, rồi hạ xuống đúng chỗ cạnh con nhỏ. Cái cách nó làm khiến cô nhớ đến người bệnh gõ ngón tay xuống bàn khám: ở đây, làm ơn.
Cô bế cục lông vào trong, đặt lên bàn khám. Hệ thống bật sáng gần như cùng lúc cô chạm vào bụng nó.
[Linh thú: Ngân Trảo – Ấu thể] [Đối chiếu hồ sơ đã lưu: trùng khớp với ca điều trị mười bốn ngày] [Tình trạng: Tích tụ khoáng độc qua đệm chân và nước uống – Cấp độ 4] [Lưu ý: Nồng độ cao hơn nhiều lần mẫu lấy từ khu rừng phía nam] Lâm Nhi đọc dòng cuối hai lần.
Lần trước, khi con Ngân Trảo lớn nằm trên chính cái bàn này, hệ thống chỉ biết lắc đầu: dữ liệu không đủ. Mười bốn ngày ghi chép đã làm nó nhận ra hình dạng của căn bệnh, và điều đầu tiên nó nói ra là điều cô không muốn nghe nhất. Khu rừng phía nam không phải nơi nhiễm nặng nhất.
Cô lật bàn chân nhỏ lên xem. Đệm chân nứt nẻ, nhuốm một màu cam gỉ sắt thấm sâu vào da, giống hệt màu bùn trên chân con lớn. Mắt nó đục ở mép như mắt một con thú già, dù theo kích thước thì nó chưa quá vài tháng tuổi.
“Tiểu Bình!” Cô gọi vọng ra sân. “Chạy sang nhà ông Thư, rồi đến chỗ bà Linh. Bảo họ mang theo sách.”
Cậu thiếu niên chạy đi không hỏi một câu “tại sao” nào, và điều đó cho cô biết mặt cô lúc này trông thế nào.
Trong lúc chờ, cô pha nước ấm hòa chút Tinh Lộ Thảo đã sao khô, ngâm từng bàn chân của con nhỏ vào chậu. Nước chuyển màu gần như tức thì, đục dần thành màu trà đặc. Cô thay nước lần thứ ba thì Linh đến, thở dốc, tay vẫn đỡ khuỷu Tiểu Bình, ba cuốn sách vàng kẹp dưới nách.
Bà chẳng chào ai, bước thẳng tới bàn, cúi nhìn chậu nước.
“Chân,” bà nói.
“Dạ?”
“Sách cổ viết Ngân Trảo nghe đất bằng bàn chân. Tôi cứ nghĩ đó là cách nói.” Bà lấy ngón tay chạm vào mép đệm chân nứt nẻ. “Nghe được thì hút được. Cô thấy không? Nó không uống phải thứ độc nào cả. Nó đi trên thứ độc, ngày này qua ngày khác.”
Lâm Nhi ngồi thẳng lên. Mảnh ghép rơi vào chỗ của nó nhanh đến mức cô thấy hơi choáng. Đệm chân dày của một con thú đi rừng vốn là lớp áo giáp. Nhưng nếu lớp áo giáp ấy được tiến hóa để đọc địa khí, nghĩa là nó được làm mỏng, làm nhạy, thì với loài này nó giống một miếng bọt biển hơn là một tấm khiên.
“Vậy ca lần trước,” cô nói chậm, “chúng ta đã chữa đúng một nửa. Nước sạch, thức ăn sạch, thuốc giải. Nhưng nằm trên sàn kho này, chân nó không chạm đất độc. Chúng ta không biết là mình đã làm điều đó.”
“Nên nó khỏi mà chúng ta không hiểu tại sao,” Linh gật đầu. “Rồi nó quay về chỗ cũ và bị nhiễm lại.”
Con Ngân Trảo lớn không ngồi yên từ nãy giờ. Nó đứng trước cửa, mũi chĩa về phía đông bắc, thỉnh thoảng quay lại ngoạm vạt áo Lâm Nhi, kéo nhẹ rồi buông, rồi lại nhìn ra sương.
Thư đến ngay sau đó, theo sau là Triệu Hùng vừa từ rừng về, mũ còn đẫm sương. Lâm Nhi kể nhanh. Thư nghe xong, đứng một lúc nhìn cái chậu nước màu trà.
“Phần rừng phía nam tôi đã cho rào xong từ tháng trước,” ông nói. “Nước ở đó đo lại, sạch rồi. Nếu nó mang con nhỏ đến đây từ nơi khác thì độc không còn nằm ở chỗ ta đã tìm.”
“Độc đi theo mạch nước ngầm,” Lâm Nhi nói. “Chặn nó ở một cửa, nó chui ra ở cửa khác. Mùa mưa sắp tới, nước sẽ đẩy nó đi xa hơn.”
Triệu Hùng, từ nãy im lặng cởi mũ, lên tiếng. “Hôm kia mấy người săn thú ở sườn bắc có kể chuyện lạ. Họ thấy khói. Khói dày, từ phía sau dãy đá, chỗ chẳng ai đến vì không có thú để săn.” Ông gãi cằm. “Tôi tưởng họ nhìn nhầm sương.”
Không ai nói gì. Chỉ nghe tiếng thở nặng của con thú nhỏ trên bàn và tiếng móng con lớn gõ lên nền đất ngoài ngưỡng cửa.
“Ngày mai đi,” Lâm Nhi nói. “Từ sáng sớm. Nó dẫn đường.”
“Cô không thể bỏ ca bệnh này,” Linh nói.
“Tôi không bỏ. Bà ở lại. Bà ngâm chân cho con nhỏ theo mẫu tôi vừa làm, ba giờ một lần, nước phải thay mỗi lần.” Lâm Nhi viết nhanh liều lượng lên một mảnh giấy, đưa cho bà. “Tiểu Bình sẽ đun nước và canh. Nếu thở nó dồn lên, chườm ngực, nhưng đừng ép nó uống.”
Linh nhìn tờ giấy, rồi nhìn cô. “Cô giao cho tôi coi một ca khó, và còn viết sẵn lời dặn như thể tôi chưa từng làm nghề.”
“Vì đây là chữ của tôi. Lát nữa bà sửa lại chỗ nào sai cũng được.”
Bà già hừ một tiếng, nhưng cầm bút lên. Trong lúc bà gạch một nét ở dòng thứ hai, thêm một chữ ở dòng thứ tư, Lâm Nhi xếp túi: kim châm, cuộn băng thật chặt như bà thích, hai gói Tinh Lộ Thảo khô, mấy bình sứ nhỏ để lấy mẫu nước.
Khi cô buộc xong dây túi, con Ngân Trảo lớn đã nằm xuống cạnh giỏ của con nhỏ, cằm đặt lên mép giỏ, mắt vẫn nhìn về phía cửa.