ĐĐọc Truyện
Đầu Bếp Xuyên Giới

Chương 17: Bụi Cỏ Sau Giếng

Bà Hòa đóng cửa quán đúng hai ngày, treo tấm bảng gỗ ngoài cửa viết bốn chữ nguệch ngoạc: Đi tìm lá, về sau.

“Tôi đi cùng,” bà tuyên bố khi Minh Khoa cố giải thích rằng đường xa và núi dốc. “Ông định tới dốc Thạch Kiều mà không có ai biết giá cả à? Ông là đầu bếp giỏi, nhưng ông mặc cả với người ta như đưa quần áo cho họ cởi.”

Quả thật, trên đường đi bà làm giảm giá bữa trưa của cả ba người xuống một nửa và bắt được một xe lừa chở họ miễn phí đoạn nửa buổi sáng. Khánh đi bên cạnh, đeo hai cái túi lớn, vừa đi vừa đọc nhẩm bản kế hoạch dài hai trang anh đã viết thâu đêm: số củi, thứ tự lá, phân công người canh lửa mười hai ca.

Họ đến dốc Thạch Kiều vào chiều ngày thứ hai.

Đó là một xóm nhỏ ven đường, bảy tám nóc nhà, một cây cầu đá vắt qua con suối cạn. Nơi từng là quán ăn giờ chỉ còn lại nửa bức tường đá xám, một cái xà gỗ mục nằm nghiêng, và một cái giếng tròn vẫn đầy nước. Một cụ già đang ngồi bên bờ tường chẻ củi, mắt hơi híp, nghe họ hỏi thăm thì ngừng tay.

“Quán ông Mạnh à?” cụ nói chậm rãi. “Tôi họ Quách. Hồi nhỏ ngày nào tôi cũng ngồi chỗ cậu đang đứng, chờ ông ấy múc cho bát canh. Tôi không có tiền, ông ấy cũng múc.”

“Cụ có nhớ một cậu bé tên Hồng không?” Minh Khoa hỏi.

“Thằng Hồng cầm đèn à?” Mắt cụ sáng lên. “Nó đứng cạnh ông Mạnh suốt, cầm đèn lồng cho ông hái lá sau giếng lúc nửa đêm. Rồi có một ông tiên tới, nói nó có căn cốt, dắt nó đi. Ông Mạnh múc cho nó một bát canh cuối, bảo nó cầm lấy mà đi.” Cụ lắc đầu. “Từ đó tôi không gặp lại.”

Minh Khoa ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào cụ. “Cậu bé ấy vừa mất hồi đầu đông. Ông ấy nhờ tôi trở lại đây nấu lại nồi canh.”

Cụ Quách im lặng thật lâu. Bàn tay cụ vuốt chiếc rìu nằm trên đầu gối, ngón tay chai sần run lên khe khẽ.

“Sau giếng,” cụ nói cuối cùng. “Chỗ đó chẳng ai đụng tới. Ông Mạnh mất rồi, trẻ con trong xóm cũng bảo cỏ ấy đắng, không ăn.”

Bụi cỏ nằm ngay sau giếng, mọc dại lên cao bằng đầu gối, lá xanh xám phủ sương chiều. Khánh cúi xuống nhìn kỹ, rồi ngẩng lên.

“Linh Thảo Ngũ Vị. Giống hệt cây ở chợ.” Anh hơi thất vọng. “Em tưởng sẽ khác.”

“Nó khác ở giờ hái,” Minh Khoa nói. “Chờ đến tối.”

Họ nhóm một đống lửa nhỏ cạnh giếng. Cụ Quách đem ra một nồi gạo, bà Hòa không chịu để cụ nấu, giành lấy nồi và chê hạt gạo đến mức cụ phải cười. Họ ăn tối giữa tiếng gió luồn qua bức tường đổ, rồi ngồi chờ. Khi đêm xuống hẳn và tiếng chó sủa ở đầu xóm đã im, Minh Khoa đứng dậy cầm đèn lồng, bước tới bụi cỏ.

“Giờ Tý,” Khánh thì thầm, nhìn khuôn mặt ông trong ánh sáng vàng hắt lên.

Ông ngắt một chiếc lá, đưa lên mũi. Không mùi. Ông cho vào miệng, nhai chậm.

Ông đã nhai chiếc lá này trong tuần thứ hai ở thế giới này và chán nản ghi: không vị rõ ràng. Nhưng đêm nay, ngồi giữa khoảng tối, bên cạnh cái giếng mà một đứa trẻ cầm đèn từng đứng hơn bảy mươi năm trước, ông cảm thấy nó khác. Nó không có vị nào cả, đúng. Nhưng nó mềm. Nó để lại trên lưỡi một lớp nhớt rất mỏng, trơn như nước cháo loãng, và sau vài giây, những vị khác còn sót trong miệng ông, chút béo của gạo, chút mặn của muối trên đầu lưỡi, tròn lại như được ai vuốt xuôi.

“Hóa ra là vậy,” ông lẩm bẩm.

“Gì cơ?” Bà Hòa hỏi.

“Nó không phải lá thiếu vị. Nó là lá làm nền.” Ông đưa chiếc lá cho Khánh. “Nhai đi. Đừng nghĩ gì cả, chỉ nhai.”

Khánh nhai. Mắt anh dần mở to.

“Nó… làm các vị khác bớt gắt.”

“Bốn lá kia mỗi lá một tính. Chua, ngọt, đắng, cay. Chia ra nấu thì tốt, nhưng trộn vào cùng một nồi, chúng tranh nhau trên lưỡi. Em có thể ép chúng nhường nhau bằng lửa, bằng thời gian, bằng chút muối, nhưng đó là cách khó.” Ông nhìn lại bụi cỏ. “Ông Mạnh dùng cách dễ: cho lá đêm vào làm bát đỡ. Lá đêm không cãi với ai cả.”

Họ hái đến khi gói giấy trong tay Khánh căng đầy: mười gói, đủ cho cả một ngày một đêm. Ông chỉ cho Khánh cách ngắt từng chiếc lá theo gốc, để lại phần non. Bà Hòa đứng canh đèn, và bà không nói gì trong suốt thời gian đó, điều mà Khánh sau này kể lại là kỳ quan duy nhất anh thấy ở dốc Thạch Kiều.

Sáng hôm sau, trước khi họ lên đường, cụ Quách chống rìu đứng dậy.

“Ông nói sẽ nấu cho cả phái? Ba trăm người?”

“Vâng.”

“Ông Mạnh có một câu, cứ nấu cho người đói trước, người no sau. Cậu nhớ giùm.” Cụ chớp mắt, mấy giọt nước rơi xuống nếp nhăn mà cụ chẳng buồn lau. “Cho tôi một ít đi. Ngày xưa trẻ con trong xóm ăn canh của ông ấy, bây giờ chúng nó đều đã già, chẳng ai còn nhớ vị.”

Minh Khoa đứng nhìn nửa bức tường cũ. Rồi ông quay lại, rút cái muôi gỗ ra từ túi áo.

Ông dựng một cái bếp tạm ngay cạnh giếng, nhóm lại lửa, và nấu một nồi nhỏ bằng mấy gói lá còn dư cùng nồi nước giếng đã đun sôi. Nấu chậm. Nấu bằng tai. Khi ông múc canh ra, cả xóm tám nóc nhà đã đứng quanh cái giếng, người già nắm tay người trẻ.

Cụ Quách nhấp một ngụm, nhắm mắt.

Bà Hòa đứng sau lưng Minh Khoa, khoanh tay, nói rất khẽ, để không ai nghe thấy ngoài ông.

“Tôi bán cháo ba mươi năm, chưa lần nào tôi thấy người ta khóc vì một bát canh.”

“Bà đang khóc đấy,” Minh Khoa nói.

“Tôi bị khói bay vào mắt.” Bà quay đi, dùng tay áo quệt mặt. “Mà này, ông gói nốt cho tôi mấy lá đêm đi. Tôi muốn thử trong cháo.”