ĐĐọc Truyện
Luật Sư Xuyên Không

Chương 3: Dấu Chân Không Dẫn Đi Đâu

Hôm sau, người ra đón Đức Anh ở cửa xà lim không phải gã lính cười khẩy hôm trước, mà là một phụ nữ chừng ba mươi lăm tuổi, cao ngang vai anh, mặc áo da thuộc sờn ở khuỷu và đeo kiếm ngắn bên hông. Tóc cô bện chặt thành một sợi sau gáy, đôi mắt xám nhìn anh như nhìn một con số chưa khớp.

“Maren, đội trưởng tuần vệ khu chợ,” cô nói. “Phán quan trưởng giao ta trông chừng ngươi trong bảy ngày. Ta nói trước cho rõ: ta không làm việc này vì tin ngươi.”

“Tôi không đòi cô tin tôi,” Đức Anh đáp. “Tôi chỉ đòi cô nhìn.”

Người ta tháo xiềng ở cổ chân nhưng giữ cùm ở hai cổ tay, nối vào một sợi dây thừng dài ba sải mà hai lính tuần giữ đầu kia. Họ đưa anh ra khỏi nhà lao qua một sân đá còn đọng sương. Lần đầu tiên anh được nhìn thành phố này dưới ánh sáng ban ngày: những mái ngói dốc phủ rêu, khói bếp bốc lên từ hàng trăm ống khói thấp, tiếng bánh xe gỗ nghiến trên đường lát, mùi phân ngựa trộn với mùi bánh mì nướng. Không có biển hiệu điện, không có nhựa, không một ống thép nào. Anh nén cảm giác choáng váng bằng cách tự nhẩm: quan sát trước, hoảng sau.

Hiện trường là một con hẻm hẹp giữa hai dãy kho, người ta gọi là hẻm Cá Muối vì lối rẽ vào chợ cá ở đầu bên kia. Hai bên là tường gạch xỉn màu, cao quá đầu người ba lần. Dưới chân, đất nện còn sẫm vì mưa đêm trước ngày án mạng, nhưng đã khô cứng lại thành một lớp vỏ nứt nẻ.

Khi họ tới nơi, anh ngạc nhiên thấy cả giữa hẻm phủ kín những cái rổ úp, mấy tấm ván và một chiếc cửa gỗ tháo từ bản lề, kê bằng gạch ở bốn góc.

“Ngươi nhìn gì?” Maren hỏi.

“Cô làm cái này?”

“Ba năm trước, một vụ án bị xử sai vì dân chợ xúm vào xem xác rồi giẫm nát mọi thứ.” Cô nhún vai, không nhìn anh. “Ta không thích thấy chuyện đó lặp lại. Ông trưởng đội bảo ta lo xa. Ta cứ úp.”

Đức Anh nhìn cô lâu hơn mức cần thiết. Anh đã làm nghề mười hai năm, và biết người ta hiếm khi gặp được một người bảo vệ hiện trường tử tế, ngay cả ở những nơi có quy trình bằng văn bản.

“Cảm ơn,” anh nói. “Cô vừa làm cho tôi một việc lớn hơn cô nghĩ.”

Cô quay mặt đi, hất đầu ra hiệu cho hai lính nhấc từng chiếc rổ lên.

Dưới mỗi chiếc rổ, dấu giày hiện ra rõ ràng như in vào sáp. Anh quỳ xuống, bàn tay bị cùm vẫn đủ chỗ để chỉ trỏ.

“Đây là chỗ tôi nằm,” anh nói, chỉ vào một hình lõm gần giữa hẻm, nơi bụi đất còn giữ nguyên đường nét một người vừa đổ xuống. “Và đây là dấu giày của tôi.” Anh đưa chân ra cạnh một cặp dấu, đế giày da trơn có gót cao hơn gót giày của lính, cạnh bên hằn ngay ngắn. “Trong ba bước quanh đó, chỉ có dấu chân tôi. Rồi hết.”

Maren khoanh tay. “Rồi hết?”

“Dấu của tôi bắt đầu ở đây, như thể tôi mọc lên từ đất, và kết thúc ở đây. Chỗ nạn nhân nằm cách đây bao xa?”

Một lính lấy sợi dây thắt nút làm thước, kéo từ hình người nằm lõm tới điểm có vệt máu sẫm ở chân tường. “Mười hai bước,” anh ta nói.

“Mười hai bước, và không có một dấu chân nào của tôi nối chỗ này với chỗ kia.” Đức Anh đứng dậy, phủi đầu gối. “Nếu tôi đâm ông ta, tôi phải đi tới chỗ ông ta nằm, rồi đi lại về đây, rồi ngã. Đất hôm đó ướt. Tôi để lại dấu khi bước từ cổng vào, từ chỗ ngã ra xa, và bất cứ thứ gì giữa hai điểm. Nhưng không có.”

“Hắn có thể đã xóa dấu,” lính tuần vệ lẩm bẩm.

“Xóa dấu trên đoạn đường đi, nhưng để nguyên dấu quanh chỗ mình nằm, và không động đến dấu của bất kỳ ai khác?” Đức Anh nhìn anh ta, rất bình tĩnh. “Nếu tòa muốn tin điều đó, tòa cần một lý do cho sự chọn lọc ấy.”

Maren không cười, nhưng khóe môi cô giật nhẹ.

Họ tiếp tục đi theo vết. Gần chân tường, nơi một hốc lõm nhỏ che khuất khỏi tầm nhìn từ miệng hẻm, có một vũng đất bị đứng đạp rất lâu, nhiều dấu chồng lên nhau. Từ đó, một chuỗi dấu khác kéo thẳng tới chỗ xác chết: giày bốt nặng, gót đóng đinh sắt, cặp đinh dày ở gót phải, và dấu chân phải lúc nào cũng kéo lê nhẹ ở phần mũi, như người cà thọt. Từ chỗ xác chết, chuỗi dấu ấy quay đi về phía đầu hẻm phía bắc, rồi biến mất trên nền đá lát.

“Có người đã chờ ở đây,” anh nói. “Chờ khá lâu. Và hắn đi cà nhắc bên phải.”

Anh còn thấy một dấu khác nữa, mờ hơn, ngoài miệng hẻm phía chợ: đế giày mảnh, mũi nhọn, của người đi giày may đo, đứng yên một chỗ rất lâu, không bước vào.

“Ta thấy cái đó từ hôm đầu,” Maren thừa nhận. “Ta tưởng một người qua đường. Nhưng sao người qua đường lại đứng im lâu thế?”

“Đó là câu hỏi hay.”

Anh đưa cánh tay lên, lật mép tay áo sơ mi trắng. “Còn cái này nữa.” Cổ tay áo vẫn sạch tinh. “Hồ sơ nói nạn nhân bị đâm ở ngực. Máu từ vết thương như thế phun theo nhịp tim. Một người đâm xong rồi cúi xuống đặt dao cạnh tay mình sẽ không thể giữ cổ tay áo như thế này.”

“Ngươi có thể đã rửa.”

“Giữa một con hẻm khô, không giếng, rồi ngã bất tỉnh bên con dao?” Anh nghiêng đầu. “Cô tin điều đó không?”

Maren im lặng. Trong sự im lặng ấy, anh nghe thấy cô đã bắt đầu nghĩ.

“Tôi cần mấy thứ,” anh nói. “Bột thạch cao, loại thầy lang dùng bó xương. Sáp ong. Giấy, than, một cuộn dây dài. Tôi muốn đúc khuôn từng dấu chân này trước khi gió hay chuột làm hỏng.”

“Ngươi đang ra lệnh cho ta?”

“Tôi đang nhờ. Nếu tôi sai, thứ cô giúp tôi sẽ là thêm lý do để tòa kết án tôi. Nếu tôi đúng, cô sẽ không phải sống với một bản án sai.” Anh nhìn thẳng vào mắt cô. “Dù sao cô cũng đã úp mấy cái rổ này.”

Maren mím môi, quay sang người lính trẻ hơn: “Chạy đến chỗ lão Pelham. Bảo ta cần bột thạch cao, sáp, giấy. Ghi sổ ta chịu.”

Khi người lính chạy đi, trong hẻm chỉ còn tiếng gió luồn qua khe tường. Đức Anh cúi xuống tính lại số bước chân, và nghe thấy tiếng sột soạt rất khẽ trên đỉnh tường phía trên đầu.

Anh ngẩng lên.

Một đứa bé gái ngồi vắt vẻo trên bờ tường, chân trần, tóc cắt lởm chởm như bị ai dùng dao chặt. Chừng mười một tuổi, mặt lấm đất, đôi mắt tròn và sáng như mắt mèo. Nó nhìn Đức Anh chăm chú, rồi nhìn xuống sợi dây thừng nối cổ tay anh với lính tuần vệ.

“Con nhóc này sống trên các mái nhà quanh đây,” Maren nói, giọng thoáng bực. “Xuống, Wren. Chỗ này không phải nơi chơi.”

Con bé không nhúc nhích. Nó vẫn nhìn Đức Anh, và nói bằng giọng nhỏ nhưng rõ từng chữ:

“Ông ngã xuống từ ánh sáng. Tôi thấy hết.”