ĐĐọc Truyện
Thợ May Linh Vật

Chương 15: Chiếc Áo Của Chính Mình

Hân tỉnh dậy vào buổi sáng ngày thứ ba sau trận chiến, trong căn phòng có khung cửa sổ nhìn ra luống húng.

Ánh nắng chiếu qua tấm màn mỏng, hắt lên tường một vệt vàng nhạt. Mùi húng lan vào cùng tiếng gà gáy xa xa, tiếng búa đóng gỗ, tiếng người nói chuyện rộn ràng ngoài ngõ. Bàn tay trái của cô, được băng lại sạch sẽ, nằm trên chăn, và bàn tay phải bị ai đó giữ trong tay. Tiểu Mẫn gục đầu lên mép giường, ngủ say, môi hé mở, đôi mắt sưng húp.

Cô nằm im một lúc, để ngón tay mình nằm yên trong tay cô bé. Rồi Tiểu Mẫn giật mình choàng tỉnh, nhìn cô trân trối, và oà lên khóc.

“Cô, cô, cô tỉnh rồi! Con tưởng cô ngủ luôn!” Cô bé lau mũi bằng ống tay áo. “Thành vẫn còn nguyên! Cổng bắc hỏng một nửa, nhưng sửa được. Không ai chết trong những người đứng dưới áo, một người cũng không. Có hơn sáu mươi người bị thương, nhưng đều qua cơn nguy rồi. Chú Thái Phong bị gãy hai xương sườn, nhưng chú nhất quyết nói là không sao, rồi cứ đi khắp ngõ khoe.”

Hân bật cười, rồi ho, rồi cười tiếp. “Chú ấy lúc nào cũng nói không sao.”

Cô ngồi dậy được vào buổi trưa, ăn được bát cháo vào buổi chiều, và đến ngày thứ năm thì ra được sân. Thành đã lên tiếng khắp nơi. Lão Tào ghé thăm với giỏ trứng muối, lần này còn có thêm hai quả cam, bảo “tôi đi hỏi mãi mới có”. Chị Ngư gửi đến một cái yếm bé xíu thêu hoa nhài, chị vừa sinh được một bé gái, ngay sau trận chiến, và đặt tên là Gia An. Đại Lực mang đến một chiếc ghế dựa tự đóng, bảo “lưng tôi đỡ rồi nên giờ tôi đóng ghế cho người khác dựa”.

Thành chủ Dương Thục Nghi đến vào chiều ngày thứ sáu. Bà đứng rất thẳng trong sân nhà Thái Phong, tay chắp sau lưng, và nói không vòng vo.

“Ta đã đọc lời khai bà Tần giao. Ta đã cho người xem hồ sơ cũ của thành. Phần ghi ‘thú dữ tràn xuống thung lũng’ đã bị sửa mực bằng một bàn tay khác.” Bà nhìn Hân. “Hoàng Khải đến phủ thành sáng hôm qua. Ông ta tự mang sổ sách đến, và tự quỳ trước bàn ta. Ta không quyết định số phận một người chỉ vì chuyện ông nội y làm bảy mươi năm trước. Nhưng ta ra lệnh phá bỏ toàn bộ giáp hút người của Linh Khí Đường. Họ sẽ rèn lại giáp theo kiểu khác, do chính các thợ cả định đoạt.”

“Còn ông Khải?”

“Ông ta xin được ở lại làm thợ rèn thường.” Thành chủ thoáng nhếch môi. “Ta cho phép. Ông ta rèn tệ, nhưng chăm.”

Cuối buổi, Hoàng Khải tự đến.

Ông đứng ngoài cổng sân, không bước vào, trên tay là một hộp gỗ nhỏ. Hân nhìn ông qua khoảng sân. Trông ông già hơn nhiều so với lần gặp ở phủ thành, vai xệ hẳn xuống, hai bàn tay đen nhẻm vì than.

“Cô không cần mời tôi vào,” ông nói. “Tôi chỉ mang cái này đến.”

Ông đặt hộp lên bậc cổng, lùi lại ba bước. Bên trong là một quyển sổ da, bìa nứt. Chữ của Hoàng Nhượng, nét nặng và nghiêng, chép lại từng chi tiết của đêm giông bão bảy mươi năm trước, kể cả những tên người đã chết. Ở trang cuối, ông Nhượng viết một dòng bằng mực đã phai: Không đêm nào ngủ yên.

“Tôi không xin cô tha thứ,” Khải nói. “Tôi không có quyền xin.”

Hân cầm quyển sổ, giữ rất lâu trong tay.

“Tôi cũng không có quyền tha thứ thay cho những người đã chết,” cô nói chậm. “Nhưng tôi nhận quyển sổ này. Và tôi xin ông một việc.”

“Việc gì?”

“Khi ngôi nhà của tôi được dựng lại, ông và các thợ rèn sang dựng khung mái. Bằng sắt, chứ không phải bằng lửa.”

Khải nhắm mắt lại. Khi mở ra, mắt ông ướt.

“Tôi sẽ đến,” ông nói.

Mùa xuân năm đó, tiệm may ở ngõ ba được dựng lại, to gấp ba lần cũ. Hàng xóm đến khiêng gỗ, các thợ rèn đóng mái sắt, các cô giáo làng trải chiếu cho trẻ con học ngồi. Trước cửa treo một tấm biển gỗ, nét chữ do bà Tần tự tay viết, mực đen đậm: Vân Y Môn. Mọi người có tay đều được vào học. Không thu tiền, nhận lại một bữa cơm.

Tấm Bách Gia Y được gấp lại cẩn thận, treo ở gian chính miếu Thành Hoàng, dưới hương khói. Người trong thành đi qua đều cúi đầu, dù chẳng ai bảo họ làm vậy.

Tiểu Mẫn trở thành học trò đầu tiên của Vân Y Môn mới. Rồi đến học trò thứ hai, thứ ba, một cậu bé bán rau, một chị gái làm xưởng nhuộm, một ông già thợ giày. Đến mùa thu, sân trước có hai mươi mốt người ngồi thành hàng, hít vào, ba mũi kim, thở ra.

Thái Phong cầu hôn vào một buổi chiều cuối mùa thu, trong sân nhà anh, giữa luống húng đã ra hoa tím.

Anh không nói lời nào hoa mỹ. Anh bước ra từ hiên, tay cầm một chiếc áo trắng gấp vuông, và đưa nó cho cô bằng cả hai tay, như cách người ta đưa một thứ dễ vỡ. Hân nhận lấy, mở ra. Đó là chiếc áo mất khuy của anh, chiếc cuối cùng trong ngọn đồi những áo mất khuy. Nó có một chiếc khuy sừng khâu lệch, chỉ rối, đường kim thô vụng, mỗi mũi một kiểu.

“Tôi tự làm đấy,” anh nói. “Khâu đi khâu lại sáu lần.”

Hân bật cười, và nước mắt rơi ngay trên vạt áo.

“Tôi mất khuy suốt đời,” anh nói, nghiêm trang. “Nếu cô muốn… có người mất khuy suốt đời.”

Cô lau mắt bằng mu bàn tay, nhìn anh, rồi nhìn chiếc khuy khâu lệch. Cô chưa từng thấy mũi kim nào đẹp hơn thế.

“Muốn,” cô nói. “Nhưng khuy này anh phải khâu lại.”

Họ cưới vào mùa đông, ngày đầu tiên có tuyết.

Cô may áo cưới trong ba đêm. Đó là lần đầu tiên trong đời cô ngồi vào bàn may mà người cô nghĩ đến là chính mình. Cô nghĩ đến cô bé chín tuổi ngồi cạnh khung cửi, tay bà đặt trên lưng. Cô nghĩ đến người thợ may ba mươi năm không bao giờ may cho mình một bộ đàng hoàng. Cô nghĩ rằng cô đáng được mặc một thứ như thế. Ngón tay cô tê. Lần này, hơi ấm chảy qua cô rồi trở về chính cô.

Ô thứ một trăm trên khăn mẫu của bà ngoại, cô khâu một mảnh nhỏ cắt từ mép Bách Gia Y, cạnh một mảnh lụa từ chiếc áo cưới còn thừa. Hai mảnh nằm cạnh nhau, ánh bạc và ánh hồng.

Sáng ngày cưới, cả ngõ ba đến dự. Lão Tào mặc áo cô may, chị Ngư bế bé Gia An, Đại Lực đứng thẳng lưng, ông chủ tiệm bánh mang bánh, ông thợ cả bể lò và Hoàng Khải ngồi cạnh nhau ở góc sân, không ai nói gì mà không ai muốn đi. Bà Tần, ngồi ghế danh dự, khóc suốt từ đầu đến cuối.

Hân bước ra từ gian sau, trong bộ áo đỏ thẫm mà cô tự tay may, đường chỉ rực lên nhè nhẹ khi cô qua ánh nắng. Thái Phong đứng ở cuối sân. Trên vai áo cưới của anh, chỗ vai trái từng đau, có một mũi cài rất đều.

Anh nhìn cô bước tới, và khi cô đến gần, anh nhận ra từ lâu mình đã quên mất cái vai trái ấy.