Chương 5: Đám Cháy Có Chọn Lọc
Lửa bốc lên từ dãy phòng phía đông của kho lưu trữ, liếm qua cửa sổ giấy, và khi Thanh Minh chạy tới thì khói đã cuộn thành một cột đen trên mái ngói.
Quanh sân, quan lại và lính gác chạy nháo nhào, xô nước đổ tung tóe, mỗi người la một kiểu. Giữa lúc đó, anh làm điều duy nhất mà một kế toán trưởng biết làm trong hỗn loạn: anh phân loại.
“Dư Cảnh! Cuộn nhãn đỏ trước! Chỉ lấy cuộn nhãn đỏ!”
“Nhãn đỏ là cuộn nào ạ?” chàng thư lại hét lại, sặc khói.
“Cuộn tôi dán sáng nay! Khu thương mại phía nam, sổ ra vào kho, sổ bến sông! Nhãn xanh sau cùng, còn nhãn trắng thì để cháy!”
Mười thư lại, những người hôm trước còn cười ngờ nghệch khi nghe anh giải thích về việc dán nhãn màu, giờ chạy thành hàng, mỗi người ôm một ôm cuộn giấy xông vào khói. Họ không phải suy nghĩ. Bản đồ phân loại ba ngày đã in vào đầu họ: tay họ biết rút cuộn nào từ kệ nào. Thanh Minh đứng ở cửa, đếm từng người ra vào như đếm hàng qua cổng, ghi nhẩm số cuộn. Hai mươi bảy, hai mươi tám, hai mươi chín.
Một giờ sau, lửa tắt. Ba gian phòng hóa than, mái sập, mùi khét bám vào mọi thứ. Nhưng bốn mươi sáu cuộn nhãn đỏ nằm xếp trên bãi cỏ phía sau sân, ướt bồ hóng mà còn nguyên, và không ai mất một sợi tóc.
Lâm Đạt đứng cạnh anh, mặt đen như than, quan phục cháy sém ở tay áo. Ông ta nhìn những cuộn giấy trên cỏ, rồi nhìn Thanh Minh, giọng khản đặc.
“Ngươi biết trước chuyện này.”
“Không.” Thanh Minh lau mặt. “Tôi chỉ biết nếu có người muốn đốt sổ, họ sẽ đốt đúng chỗ tôi đã sắp xếp, vì chỉ có người từng nhìn tận mắt mới biết chỗ nào đáng đốt.” Anh dừng lại. “Và hôm nay chỉ có một người đến phòng chúng ta.”
Lâm Đạt không trả lời. Một viên lính đang lôi ra từ đống tro hai chiếc bình sành vỡ, một chiếc ở hai góc phòng, đáy còn dính dầu.
“Hai chỗ cháy cùng lúc,” Thanh Minh nói khẽ. “Đèn đổ thì chỉ cháy một chỗ.”
Tối đó, khi tro đã nguội, anh kéo Lâm Đạt xuống kho lưu trữ cũ ở dãy phía tây, nơi còn nguyên vẹn. Anh có một câu hỏi từ hôm đầu mà chưa dám hỏi.
“Tại sao tài liệu khu thương mại phía nam năm mười hai và mười ba lại mất?”
Lâm Đạt ngồi xuống bậc đá. Ông ta im lặng hồi lâu, rồi kể bằng giọng của người đã nghe câu chuyện này quá nhiều lần, đến mức nó không còn mang cảm xúc.
“Năm mười ba, có một vụ cháy ở kho nhỏ này. Biên bản ghi đèn dầu của lính gác đổ. Cháy thiêu dãy kệ phía tây, mất nhiều hồ sơ. Thượng thư dâng sớ nhận lỗi quản lý, Bệ hạ khoan dung, bỏ qua.” Ông ta nhún vai. “Ai cũng thấy chuyện hợp lý. Hồ sơ cháy là chuyện thường.”
“Dãy kệ phía tây.” Thanh Minh đứng lên, cầm đèn đi dọc hành lang. “Dãy này à?”
“Phải.”
Anh giơ đèn sát vào các kệ gỗ. Sáu tầng kệ chạy dài từ cửa vào đến cuối gian, hai bên đều xếp đầy cuộn giấy. Và trên những tầng giữa, anh đọc nhãn: Khu chợ phía đông, năm mười hai. Khu bến phía bắc, năm mười hai. Khu chợ phía đông, năm mười ba. Khu bến phía bắc, năm mười ba. Tất cả đều còn nguyên, màu giấy vàng đều, không một vệt khói.
Anh sờ thành kệ gỗ. Không cháy xém, không vết đen, không mùi khét. Anh nhìn lên trần: không có dấu bồ hóng.
“Ông Lâm Đạt,” anh nói chậm rãi. “Nếu cháy thiêu cả dãy kệ phía tây, thì những cuộn này ở đâu ra? Chúng nằm ngay trên đúng dãy kệ đó.”
Lâm Đạt đứng lên, giơ đèn của mình lên, nhìn lâu những cuộn giấy sạch sẽ, mặt dần tái đi. “Ta… ta chưa từng để ý. Ta nhận chức quản kho sau vụ cháy. Ta chỉ đọc biên bản.”
“Đám cháy năm mười ba không thiêu hủy dãy kệ nào,” Thanh Minh nói. “Nó chỉ thiêu hủy một thứ: những cuộn giấy của khu thương mại phía nam. Lửa không biết chọn riêng khu thương mại phía nam để thiêu mà chừa khu chợ phía đông.” Anh quay lại. “Chúng đã bị lấy đi trước, và vụ cháy chỉ là lời giải thích viết sau khi sự việc xảy ra.”
Gió lùa qua cửa sổ, làm ngọn đèn chập chờn, chiếu bóng hai người dài ra trên nền đá.
“Vậy là xong,” Lâm Đạt thì thào. “Chứng cứ mất rồi, hôm nay còn bị đốt thêm. Chúng ta không còn gì cả.”
“Còn đấy.” Thanh Minh mỉm cười, lần đầu tiên sau nhiều ngày. “Ông biết nguyên tắc cơ bản nhất của kế toán không?”
“Là gì?”
“Mỗi giao dịch luôn có hai đầu. Nếu có người bán thì phải có người mua. Nếu có người nộp thuế thì phải có người nhận. Nếu có hàng đi qua cổng, thì có người đứng gác cổng ghi lại.” Anh chạm ngón tay vào một cuộn giấy sạch. “Kẻ đốt sổ nghĩ rằng sổ là sự thật. Nhưng sổ chỉ là một trong nhiều nhân chứng. Hắn đốt được sổ của hắn. Hắn không đốt được sổ của người khác.”
Anh rút giấy, ngồi xổm xuống nền đá, viết nhanh một danh sách.
Một: Thủy quan bến sông, nơi ghi từng chuyến hàng ra vào thành, khối lượng và loại hàng. Hai: Kho quân lương, nơi ghi lượng gạo, muối phát cho từng khu. Ba: bất kỳ ai từng nhận hay trả tiền cho Hội thương phía nam.
“Nếu tôi biết hàng hóa qua khu thương mại phía nam năm mười hai là bao nhiêu,” anh nói, “tôi sẽ tính được thuế phải nộp. Trừ đi số tiền thực sự nhập kho, tôi sẽ có con số bị mất. Họ có thể xóa sổ. Họ không xóa được hàng hóa đã đi qua.”
Lâm Đạt nhìn anh, rồi nhìn danh sách. Lần đầu tiên, đôi mắt mệt mỏi của vị quan lại già lóe lên điều gì đó giống niềm hy vọng.
“Thủy quan bến sông,” ông ta nói. “Ông già Hạ ở đó khó tính nổi tiếng. Mười năm nay không ai lấy được nửa tờ giấy từ tay lão.”
“Vậy thì,” Thanh Minh nói, gấp danh sách lại, “ngày mai ta sẽ làm một điều chưa từng có. Ta sẽ xin lão ấy giúp.”