ĐĐọc Truyện
Trang Trại Phép Thuật

Chương 9: Giấy Dưới Rễ Hòe

Họ ra góc đất vào lúc trời chưa sáng hẳn, khi bầu trời còn một vệt xám ở phía đông và sương nằm dày trên cỏ như một lớp vải ướt. Cụ Điền Bá mang theo cái xẻng nhỏ cán gỗ đã mòn bóng. Hùng Lâm mang cuốc con, một cây que thăm dò nhiệt độ đất và chiếc đèn pin mà lần này anh không đội lên đầu. Lan Chi đi cuối cùng, vừa đến để đưa giỏ trứng sáng, nghe nói liền bỏ xe, nói “tôi đi cùng” bằng giọng không chừa chỗ cho sự phản đối.

Đứng gần, cây hòe lớn hơn anh nghĩ. Thân nó phải hai người ôm mới xuể, vỏ nứt thành những rãnh sâu đến mức bàn tay anh có thể luồn vào được. Vết nứt dọc từ ngọn xuống đã khô cứng từ lâu, nhưng phía dưới, ở chỗ rễ ăn ra khỏi mặt đất như những ngón tay khổng lồ nắm lấy đất, vỏ lại ẩm và hơi xanh, có rêu. Đàn kiến đi thành đường dọc một rễ. Đâu đó trên cao, một con chim nhỏ cất tiếng hót ngắn rồi im.

Con dê trắng, được Lan Chi dắt theo vì không chịu ở lại một mình, đứng sững tại đúng vạch năm sải chân quen thuộc, ngoan ngoãn như học trò xếp hàng.

“Khoan đã,” cụ Điền Bá nói khi Lâm định bước tiếp. “Ngồi xuống.”

“Cụ?”

“Ngồi. Mấy phút thôi.”

Anh ngồi xuống cỏ ướt. Lan Chi nhìn anh, nhìn cụ, rồi cũng ngồi, tay vẫn giữ sợi dây của con dê. Ba người, một con vật, và một cái cây già, im lặng nhìn nhau trong ánh sáng đầu ngày. Anh định thốt ra một lời đùa nào đó, và không thốt được. Sương làm ướt quần anh, thấm xuống đầu gối. Mặt trời ló lên sau hàng rào, cam đậm như lòng đỏ trứng của bà Cả, và ánh sáng ấy chạm vào cành hòe cao nhất. Một chiếc lá run run.

Cụ Điền Bá đứng dậy. “Giờ thì vào.”

Anh quỳ xuống bên rễ lớn nhất, nơi đất nứt thành một vết sâu hơn các chỗ khác. Que thăm dò chui xuống dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên. Ở độ sâu nửa mét, kim chỉ nhiệt độ thấp hơn không khí hai độ. Ở một mét, thấp hơn bốn độ, và ẩm. Anh rút que ra, nhìn đầu que nhỏ giọt, rồi nhìn Lan Chi.

“Có nước chảy ngầm,” anh nói. “Rất gần mặt, mà đất xung quanh khô. Đây là dòng nhỏ, lạnh, chảy ngang, đúng dưới gốc cây này.”

“Anh nghe thử đi,” cô nói, giọng thấp xuống.

Anh áp tai vào rễ. Lan Chi cũng áp tai vào phía bên kia. Từ trong lòng gỗ, nghe rất xa, rất khẽ, vang lên một âm thanh đều đều như tiếng nước chảy trong ống. Anh đã nghe thấy nó nhiều đêm mà không nhận ra, một tiếng ngân thấp, ở rìa của thính giác, y như tiếng tủ lạnh vọng từ phòng bên.

“Tôi nghe thấy rồi,” Lan Chi nói chậm rãi, ngồi thẳng dậy. “Cho dù không ai bảo tôi nên nghe.”

Họ đào. Cụ Điền Bá chỉ chỗ, Lâm đào, Lan Chi chuyển đất ra tấm bạt trải bên cạnh để lát sau lấp lại đúng thứ tự từng lớp. Đất thoạt đầu mềm, sau đó cứng và nhiều sỏi, đến sâu chừng tám mươi phân thì lưỡi xẻng chạm vào một thứ phẳng lì. Một phiến đá xám, rộng bằng chiếc mâm, phủ đầy rễ tơ trắng như tóc.

Anh nạy phiến đá lên bằng cán cuốc. Bên dưới là một hốc nhỏ trát đất sét, và trong hốc đặt một chiếc bình sành cao chừng gang tay, miệng bịt kín bằng sáp ong đã chuyển màu nâu đen. Không ai nói gì. Cụ Điền Bá lùi lại một bước, như nhường chỗ cho người có quyền.

Anh nhấc bình lên, cẩn thận tách lớp sáp bằng lưỡi dao nhỏ. Bên trong có một vuông vải gai được quấn kỹ, thấm dầu, và bên trong lớp vải ấy là một tờ giấy dó gấp tư, mép vàng sẫm. Nửa trên còn sắc nét. Nửa dưới thì mờ, loang nhòe, như đã từng có hơi ẩm lọt qua một khe nhỏ nào đó từ rất lâu.

Anh nhẹ tay mở ra trên đầu gối, đọc to từng dòng bằng cách cụ Điền Bá đã dạy mình đọc nét chữ cổ.

“Ta dừng bút ở đây. Gốc của mạch không nằm trong đất khô mà nằm dưới rễ cây hòe này, nơi một dòng nước chảy ngầm không ai trông thấy. Ta trồng hòe để giữ nó, vì hòe sống lâu và rễ đi sâu. Ai đến sau, chớ đào giếng sâu, chớ khoan, chớ xoi trong phạm vi ba trăm bước quanh gốc. Mạch gãy một lần, ba đời không lành.”

Anh dừng, nuốt khan.

“Còn nữa không?” cụ Điền Bá hỏi, rất khẽ.

“Còn.” Anh nheo mắt nhìn nửa dưới tờ giấy. Nét mực đã nhoè thành những vệt xám, có vài chữ còn nhận ra, vài chữ đứt đoạn. “Nếu mạch… nếu có… thì nối… bằng thuốc… tay… lúc đất thở ra… Phần sau không đọc nổi.”

Ba người nhìn tờ giấy. Một hồi lâu, không ai nói gì. Lan Chi lấy điện thoại ra chụp ảnh tờ giấy từ nhiều góc độ, và cụ Điền Bá đưa tay chạm vào bình sành, như chạm vào vai một người thân vừa trở về sau chuyến đi dài.

“Ba trăm bước,” Lan Chi nhắc lại. Cô đứng dậy, nhìn ra xung quanh. “Cũng tức là gần hết mảnh đất này, và hơn nửa mảnh đất bên cạnh.”

Họ lấp hố lại theo thứ tự lớp đất, đặt phiến đá về chỗ cũ nhưng giữ lại bình sành và tờ giấy. Cụ Điền Bá quỳ xuống đặt tay lên rễ hòe một lúc mà không ai hỏi cụ làm gì. Rồi họ quay trở về, con dê trắng lần đầu tiên nhích qua vạch năm sải chân đi theo họ vài bước, rồi như nhận ra mình hơi vô phép, nó vội lùi lại.

Đi dọc hàng rào phía đông, Lan Chi bỗng dừng lại.

“Hôm kia tôi đi qua đây, thấy chỗ này trống trơn,” cô nói, chỉ về phía đất ông Thạch.

Dọc theo bờ ruộng bên kia, cách nhau chừng hai mươi bước chân, cắm một hàng cọc gỗ mới vót, mỗi cái buộc một mảnh ruy băng màu cam sáng. Anh nhìn nhịp cách đều của chúng và nhận ra ngay thứ mình đang nhìn: loại cọc tiêu mà người ta cắm trước khi khoan khảo sát địa chất.