ĐĐọc Truyện
Thiên Cơ Các Chủ

Chương 26: Bánh Xe Nước

Mùa xuân năm sau, con suối sau làng Thanh Nham lần đầu tiên chảy ngược lên dốc.

Ba bánh xe lồng vào nhau đứng nghiêng bên bờ, nan làm bằng Ngọc Thanh Trúc còn vàng nhạt, ngâm nước ba ngày đã ngả sang xanh. Dòng suối đẩy bánh dưới cùng, bánh dưới kéo bánh giữa, bánh giữa nâng bánh trên, và những chiếc gầu tre nối nhau múc đầy rồi đổ vào máng gỗ chạy dọc triền đồi, lên tận mấy thửa ruộng bậc thang mà dân làng mấy đời chỉ biết ngửa mặt chờ mưa. Cả cỗ máy kêu rù rù đều đều, nghe như tiếng một con vật khổng lồ đang no.

Dân làng đứng kín hai bờ. Trẻ con ngồi trên vai cha. Có người cúi xuống sờ dòng nước chảy trong máng như sờ một con thú lạ. Hai ông già họ Chu đứng ở hai đầu cái máng, mỗi người một bên đường ranh mà hai nhà đã cãi nhau từ hồi Tần Mặc còn bé. Nước đi qua vạch ranh, rẽ vào cả hai thửa ruộng. Không ai nói với ai một lời. Nhưng khi gầu đầu tiên đổ xuống, người già bên này chìa chiếc nón của mình sang che nắng cho người già bên kia, và người kia nhận lấy.

Triệu Cẩu ngồi trên chiếc ghế đẩu mang từ quán trà tới, duỗi cái chân phải cứng đờ ra trước, tay cầm bánh. “Nước chảy đẹp hơn tiền,” ông ta nhận xét, miệng nhồm nhoàm. “Tao chưa nghĩ mình nói câu này bao giờ.” Ông ta nuốt miếng bánh, mắt vẫn dõi theo mấy chiếc gầu. “Đường núi sau làng tao giao lại cho thằng cháu rồi. Nó chỉ chở trúc với muối. Nghề cũ bỏ hẳn. Mày làm Các chủ, tao làm ông già bán trúc cho Các. Nghĩ lại thấy hơn hồi mày tám tuổi ngồi đếm ba đồng.”

Mọi chuyện ở nơi khác đến tai Tần Mặc bằng những tin tức nhẹ như bụi bay. Ngụy Hoành rời Cơ Khí Tông ngay sau mùa thu, có người nói ông ta về quê trồng cúc. Hai nhà đại điền chủ phía đông đòi lại số bạc ứng trước, và đòi được, vì tám bản vẽ đã đến tám phái, chẳng ai còn giữ được độc quyền với thứ ai cũng đang chép. Mấy phái trong liên minh cử thợ lên xem, và Giả Minh đến trước tiên, ria mép không tỉa, vai đeo túi đồ nghề, đứng ở cổng Các xin ở lại học khớp nối. Tiêu Dực bắt ông ta bê gỗ ba ngày liền trước khi cho cầm đục.

Tối hôm trước ngày khánh thành, Tần Mặc ngồi một mình ở bàn dưới đèn, mở cuốn sổ ký hiệu mà ông đã dùng từ năm tám tuổi, cuốn sổ không ai đọc được vì chìa khóa chỉ nằm trong đầu ông. Ông chép chìa khóa ấy ra ba mảnh giấy, mỗi mảnh chỉ thiếu một phần ba. Một mảnh ông giữ. Hai mảnh còn lại ông đem đến phòng Tiểu Đồng và Tiêu Dực. Bài học đầu tiên của kiếp trước, rằng quyền lực không được tập trung vào một người, ông vẫn giữ nguyên. Ông chỉ sửa vế sau cho đúng: không giấu đến mức không còn ai để cùng giữ.

Hộp bảy khóa bây giờ đựng sổ sách của cả Các. Muốn mở nó, vẫn phải có ba người.

Khi gầu nước đầu tiên chạm tới thửa ruộng trên cùng, dân làng reo lên một tiếng dài. Cơ Cơ nhảy cẫng lên, suýt rơi khỏi khung gỗ. Tiểu Đồng đứng cạnh trục, bàn tay đầy dầu, mắt đỏ hoe, miệng vẫn lẩm bẩm đếm vòng quay như sợ cỗ máy đổi ý. Mẹ chen qua đám đông, một tay vịn vào vai Cơ Cơ, một tay cầm tấm khăn vải gấp tư. Bà nhét nó vào tay con trai.

“Lau tay đi, dính dầu hết rồi.” Bà nhìn lên dòng nước đang leo dốc, nhìn một lúc lâu, rồi quay sang con. “Thế mới là thầy giáo.”

Ông định nói gì đó, nhưng bà đã bị đám trẻ con kéo đi xem cái gầu.

Tiêu Dực từ bờ suối bước tới, hai tay bưng hai bát trà vừa xin ở một nhà gần đó. Hơi nóng bốc lên thành dải mỏng trong gió sớm.

“Sư phụ. Trà.”

Ông nhìn bát trà ở trong tay đệ tử, rồi nhìn bàn tay kia, bàn tay có vết chai ở chỗ người cầm đục lâu năm. Hơi nóng quen thuộc đến mức khiến gáy ông lạnh buốt. Chén trà đêm ấy cũng bốc hơi như thế, cũng do bàn tay vạt lệch ba phần ấy đặt vào tay ông, và hôm đó ông đã uống cạn mà không hề nghi ngờ. Ngón tay ông dừng lại giữa chừng, đúng nửa nhịp.

Tiêu Dực thấy. Cậu ta không hỏi gì, không rụt tay lại, chỉ giữ chén thật vững, như một người sẵn lòng chờ đến bao lâu cũng được.

“Sư phụ không khát sao?”

“Có khát,” Tần Mặc nói.

Ông đón lấy bát trà, đưa lên môi, uống một hơi. Trà hơi chát, hậu vị ngọt đường phèn, nóng vừa đủ. Ông uống cạn, rồi trả chiếc bát lại.

Tiêu Dực nhận bát không, cười, một nụ cười chẳng có chút gì tính toán bên trong. Cậu ta đi về phía Tiểu Đồng, vừa đi vừa lớn tiếng gọi nó đừng đếm nữa, máy chạy rồi, đếm mãi nó cũng chẳng chạy nhanh hơn.

Chiều xuống, dân làng tản về. Ông đi bộ về nhà mẹ, nơi chiếc khung cửi kêu êm trong ánh nắng cuối ngày. Từ xa vẫn nghe tiếng cỗ máy dưới suối, rù rù đều đặn như mưa. Ông nằm xuống chiếc chiếu cũ, ngay cái chiếu mà gần ba mươi năm trước ông đã tỉnh dậy trong thân xác một đứa trẻ tám tuổi.

Lần đầu tiên từ cái buổi sáng ấy, ông ngủ mà không tính xem ngày mai những ai sẽ biết ông ở đâu.