Chương 22: Ba Đồng Cũ
Quán trà cạnh cổng làng đã thay mái ngói hai lần từ hồi Tần Mặc còn ngồi đây ăn bánh với tư cách một đứa trẻ tám tuổi, nhưng cái bàn ở góc trong vẫn là cái bàn ấy, mặt gỗ lõm xuống một vệt nông ở chỗ vô số khuỷu tay đã tì lên. Triệu Cẩu ngồi sẵn ở đó. Ông ta già đi nhiều. Tóc muối tiêu, cái bụng nở ra, đầu gối bên phải cứng đến mức phải duỗi thẳng chân dưới gầm bàn, nhưng đôi mắt vẫn là đôi mắt soi mói của người quen đọc kẻ khác.
“Ngồi đi,” Triệu Cẩu nói, không ngẩng lên. “Mày đứng đó nhìn như thằng đến đòi nợ. Khách của tao sợ.”
Tần Mặc ngồi xuống đối diện. Ông ta đẩy đĩa bánh sang, rồi chính tay ông ta lại bốc một cái cắn một miếng lớn, y như cái buổi sáng xa lắc ấy. Cả vùng này chỉ có hai người biết ông chủ Thiên Cơ Các và thằng nhóc từng hỏi chuyện người qua đường ở cổng làng là một. Hai người, và một trong hai người chẳng bao giờ nhắc.
“A Thạch làm ở chuồng ngựa quán nhà họ Chu ba năm nay,” Triệu Cẩu nói, miệng còn nhai. “Nó nghe được. Sáng nay thằng nhỏ của mày vào quán, đi thẳng lên gác. Trên đó có hai người. Thằng ria mép Giả Minh đứng canh ngoài cửa. Trong phòng là Ngụy Hoành.”
“Thầy trưởng của Tiêu Dực.”
“Chính hắn. Hắn mang theo hai cái rương, không phải rương hành lý, nặng, đặt xuống sàn nghe tiếng là biết đồ đồng.” Triệu Cẩu nuốt miếng bánh, uống một ngụm trà. “Sàn gác nhà họ Chu mỏng, A Thạch nằm dưới nghe được gần hết. Hắn đưa ba điều kiện. Ghế đại sư huynh Viện Cơ Quan của Cơ Khí Tông. Tờ hợp ước rời tông xé đi, coi như chưa từng có chuyện. Và đổi lại, một bản chép lại thứ nằm trong cái hộp bảy khóa ở kho sâu nhất của mày. Hắn gọi nó là tâm đồ thủy cơ.”
Tần Mặc cầm chén trà, không uống. “Thủy cơ.”
“Một cái máy kéo nước từ sông lên ruộng cao, không cần trâu, không cần người đạp, năm hạn vẫn chạy. Sử sách của Cơ Khí Tông có chép là Các cũ của mày từng vẽ ra nó, mà chưa ai dựng nổi.” Triệu Cẩu cúi xuống thấp giọng hơn. “Tao hỏi thêm mấy đứa bên đoàn xe đi phía đông. Hai tháng nay có kẻ mời hai nhà đại điền chủ ký trước một khoản bạc, mua quyền dùng loại máy đó cho ruộng nhà họ khi gặp hạn. Máy thì chưa có. Bạc thì đã nhận một nửa.”
Ông hiểu ngay. Kẻ nào nắm được cái máy ấy trong tay đầu tiên sẽ nắm luôn nước của cả vùng, và nắm nước nghĩa là nắm luôn giá thóc, giá đất, nắm cả những người phải cúi đầu xin nước mỗi mùa. Ngụy Hoành không cần một đệ tử. Ông ta cần một bàn tay từ bên trong.
“Còn Tiêu Dực?” ông hỏi.
“Ở trên gác chừng một nén hương. Lúc đi ra tay cầm cái gì bọc trong khăn. A Thạch bám theo xem, thấy nó đứng trên cầu đá rất lâu, nhìn xuống nước, xong cất vào tay áo rồi đi bộ lên núi.” Triệu Cẩu chống cằm. “Nó không ném đi. Tao nói thật, mày phải biết điều đó.”
Lưng quán có tiếng người cười nói của đoàn khách mới tới, tiếng gáo múc nước, tiếng chổi quét vỏ hạt dưa. Mặt trời đã nghiêng, bóng cổng làng kéo dài qua đường. Ngay chỗ này, bằng đôi tai tám tuổi, ông từng nghe tin về quan huyện, về thuế, về những chuyến hàng đêm. Hôm nay tin đến lại là tin về người đang sống dưới mái nhà ông.
“Tao cho mấy đứa chặn nó ở chân núi, lấy cái thứ trong tay áo, nói chuyện vài câu cho nó tỉnh,” Triệu Cẩu nói. “Hoặc mày đuổi nó đi. Cách nào tao cũng làm.”
“Không.”
“Mày làm tình báo cả đời, sao ngồi nói chuyện như ông thầy đồ?”
“Ta không đuổi một người vì điều người đó chưa làm.” Ông đặt chén trà xuống bàn. “Ta cũng không thể ngồi yên chờ nó làm.”
Triệu Cẩu nhìn ông một lúc lâu, cái nhìn xuyên qua hai mươi mấy năm. “Tao mua tin của mày hồi đó vì mày nói chuyện như ông già. Giờ mày làm Các chủ rồi, đôi lúc vẫn nói như thằng nhóc sợ bị đòn.” Ông ta gõ ngón tay xuống mặt bàn. “Mày biết cái gì làm mày thiệt không? Mày chưa bao giờ hỏi thẳng ai điều mày muốn biết. Mày thích nghe lén, thích nghe sau lưng, còn hỏi trước mặt thì mày chịu.”
Ông im lặng. Quả đúng như vậy. Hai kiếp người, ông đã nghe được bí mật của cả thiên hạ, và chưa một lần ngồi đối diện ai để hỏi: ngươi đang nghĩ gì, ngươi cần gì từ ta. Kiếp trước, câu hỏi ấy ông không bao giờ thốt ra, và người kia đã tự tìm câu trả lời ở nơi khác.
Ông móc túi lấy ba đồng tiền cũ, đặt lên bàn, đúng giá của một tin chính xác từ cái ngày đầu.
Triệu Cẩu nhìn chúng, rồi dùng một ngón tay đẩy chúng trở lại. “Ba đồng hồi đó tao trả mày cho cái tin quan huyện bận thu thuế, chưa đủ cho hai chục năm tao hưởng ké. Tin hôm nay tao biếu. Giữ lấy.”
“Tối nay ta mở hộp,” Tần Mặc nói.
Triệu Cẩu ngừng nhai. Miếng bánh dừng giữa đường lên miệng, y hệt buổi sáng năm xưa ở chính cái bàn này.
“Cái hộp thằng Ngụy đang muốn à?”
“Chính nó. Nhưng ta không mở một mình.”
Ông đứng dậy, nhặt ba đồng tiền bỏ lại vào túi áo và đi ra cổng làng. Phía sau, ông nghe Triệu Cẩu lẩm bẩm, giọng ba phần càu nhàu bảy phần không giấu được sự thích thú: “Hai mươi mấy năm, cuối cùng thằng nhóc cũng chịu mở cửa cho người khác bước vào.”