ĐĐọc Truyện
Thiên Cơ Các Chủ

Chương 21: Chiếc Khung Cửi

Chiếc khung cửi ở góc nhà đã kêu ken két suốt hai mươi lăm năm, vậy mà chiều hôm ấy nó chạy êm đến mức Tần Mặc đứng ở ngưỡng cửa còn tưởng mình bước nhầm sang nhà khác.

Con thoi lướt qua lướt lại giữa hai lớp sợi, tiếng gỗ chạm gỗ đều đặn như hơi thở của người đang ngủ. Mẹ ngồi sau khung, lưng còng hơn năm ngoái một chút, tóc bạc gần hết, hai bàn chân đạp bàn đạp nhẹ nhàng như chưa từng phải gắng sức. Nắng cuối thu xiên qua cửa sổ, rọi lên những sợi bông bay lơ lửng và lên nồi cháo đang sôi liu riu trên bếp.

“Tứ về đấy à?” Bà không ngoảnh lại. “Cháo trên bếp, con tự múc.”

Ở trên núi, người ta gọi ông là Tần Các chủ. Tần là họ mẹ, Mặc là âm ông bẻ ra từ họ cũ, và ông chọn cái tên ấy từ ngày mua lại tòa Các cổ để không ai lần theo Thiên Cơ Các mà xuống được căn nhà gỗ nhỏ ở Thanh Nham. Chỉ ở đây ông mới còn là Tứ, như hồi tám tuổi.

Ông múc cháo, kéo chiếc ghế đẩu ngồi cạnh khung cửi và nhìn nó thêm một lúc. Cái khung này ông thuộc từng đường mộng. Bàn đạp từng nứt dọc thớ, trục cuốn từng phải kê miếng gỗ vụn cho khỏi lắc. Bây giờ trục cuốn xoay trên hai ổ trúc bóng như sáp ong, và bàn đạp nối với một thanh đòn có quả đối trọng nhỏ treo dưới sàn, để chân một bà lão sáu mươi chỉ cần nhấc bằng nửa sức cũ.

“Ai sửa cho mẹ thế này?”

“Thằng bé Dực chứ ai.” Giọng bà tươi hẳn lên. “Nó xuống đây hai lần, đeo cái túi đồ nghề to hơn cả người nó. Mẹ bảo thôi đừng, dơ tay, nó nói để cháu xem một chút thôi. Cái một chút của nó kéo từ trưa đến tối mịt. Mẹ nấu bát cháo, nó ăn hết ba bát, còn khen cháo mẹ ngon hơn cháo trong Các.”

“Cậu ấy không nói với con.”

“Chắc ngại. Hay sợ con mắng vì đi làm việc ngoài giờ?” Bà cười, đẩy con thoi thêm một lượt. “Thằng bé tử tế. Mẹ hỏi nó học với con có khổ không, nó bảo khổ, nhưng khổ vui. Thế mới là thầy giáo, con ạ.” Bà đẩy thoi thêm một lượt rồi nói tiếp, giọng chậm lại. “Lần sau cùng nó xuống, nó ngồi nhìn cái bàn đạp rất lâu, rồi hỏi mẹ một câu lạ. Nó hỏi, nếu có người đưa cho bác một món đồ quý mà bác biết là không nên nhận, bác có nhận không. Mẹ bảo còn tùy ai đưa, và đưa vì cái gì. Nó cười, nói bác nói giống hệt thầy cháu.”

Ông không đáp. Tay ông đã đặt lên thanh đòn, ngón cái miết theo mối ghép. Đầu chốt có một đường vạt chéo, lệch đúng ba phần so với đường người thợ thường vạt. Người ta vạt thẳng cho gọn mắt. Bàn tay này vạt lệch để lực không dồn vào một điểm.

Ông biết bàn tay ấy. Ở hội thi, ông nhận ra cách chia lực lệch trong cơ quan của đội Cơ Khí Tông trước cả khi nhìn thấy mặt chủ nhân của nó. Kiếp trước, trong hai mươi năm, ông đã thấy đường vạt ấy trên chốt cửa, trên cánh quạt gió, trên cái đồng hồ nước đặt cạnh giường ông trong Thiên Cơ Các. Hai mươi năm ông che chở một người trẻ, từ cái ngày cậu ta chạy trốn khỏi Cơ Khí Tông với bàn tay bị đánh dập, cho đến cái đêm chính bàn tay ấy rót cho ông chén trà cuối cùng.

Ngày ở hội thi, ông đã hỏi “Tên ngươi là gì?” dù biết rõ câu trả lời. Ông có thể quay đi. Suốt những năm dựng lại Các, ông giữ đúng một quy tắc, rằng không ai được đứng đủ gần để phản ông. Vậy mà khi người ấy tự bước đến cổng, ông lại mở cổng. Đến giờ ông vẫn chưa giải thích trọn vẹn được với chính mình. Có lẽ ông muốn biết trong hai mươi năm kia, bao nhiêu phần là bản tính của người ấy, và bao nhiêu phần là do ông.

Gần hai năm trôi qua, Tiêu Dực chưa làm điều gì khiến ông phải hối hận. Cậu ta bám bản vẽ đến khuya, cãi nhau với Tiểu Đồng đến khản giọng, và lặng lẽ xuống núi sửa khung cửi cho một bà lão mà không đòi một lời cảm ơn. Chính điều đó làm sống lưng ông lạnh đi. Mười năm đầu ở kiếp trước, người ấy cũng chẳng làm gì để ai phải hối hận.

Ngoài ngõ có tiếng chân chạy thình thịch, rồi một cái đầu nhỏ thò vào cửa, tóc dính đầy lá khô. Cơ Cơ thở không ra hơi, giày lấm bùn đường núi.

“Các chủ! Anh Dực xuống núi từ sáng sớm, không mang đồ nghề gì hết. Cháu thấy anh ấy rẽ về phía quán nhà họ Chu!”

Con thoi dừng giữa chừng. Mẹ quay sang nhìn con trai, rồi nhìn thằng bé tóc đầy lá, rồi lại nhìn con trai. Bà không hỏi gì cả. Bà đã một mình nuôi ông khôn lớn, đủ lâu để biết có những lúc không nên hỏi.

“Cơ Cơ, vào đây, ngồi xuống uống nước,” bà nói. Rồi bà nhìn bát cháo mới vơi một nửa trong tay ông. “Còn con, ăn nốt đi. Trời có sập cũng sập sau bát cháo.”

Ông ngồi lại. Cháo còn nóng, hạt gạo nở mềm, có mùi gừng thái chỉ mà bà vẫn bỏ vào từ ngày ông còn nhỏ. Ông múc từng thìa, ăn hết sạch, rồi đặt bát xuống mới đứng dậy.