ĐĐọc Truyện
Bạch Xà Linh Hồn

Chương 24: Người Bệnh Trên Đỉnh Núi

Trần Mộc không hỏi ai được phép hay không. Anh bảo hai người đạo sĩ dọn mấy tấm đá bằng phẳng, trải chăn len xuống, đặt Quan Hạc nằm lên, rồi nhóm lò than ngay cạnh, nơi gió thổi ít nhất. Anh đun siêu thuốc bằng cái bầu nước gừng còn sót lại từ đêm trước, thêm quế, thêm ngải, và tự tay nâng đầu ông già dậy mà đút từng thìa, vẻ mặt chuyên chú không khác gì đối với đứa trẻ sốt ở xóm bên.

“Mạch chìm, lạnh từ trong ra,” anh nói với chính mình. “Tay trái mất cảm giác nhiều năm. Ông này đã gần như quên mình có tay trái.”

Quan Hạc mở mắt khi ánh mặt trời đã lên cao. Ông nằm im một lúc, nhìn lên bầu trời trắng nhạt, rồi nhìn bàn tay trái đã bỏ găng, đặt ngay cạnh lò than. Ông nhắm mắt, mở ra, nhìn lại. Những ngón tay còn xanh tím, nhưng ngón trỏ khẽ co lại khi hơi nóng chạm vào.

“Tại sao không giết ta?” ông hỏi. Giọng khàn, nhưng đã bớt thứ lạnh sắc nhọn của đêm qua.

Nàng ngồi xổm bên cạnh, hai tay vẫn còn hơi ấm kỳ lạ sau lúc cầm kiếm. “Ông bị bệnh.”

“Ta vừa muốn lấy mạng ngươi.”

“Ông vừa muốn sống,” nàng nói. “Khác nhau chứ.”

Ông nhìn nàng chằm chằm. Rồi ông quay sang Trần Mộc. “Ngươi là thầy thuốc. Nói cho ta biết. Nếu ta bỏ kiếm, ta sống được bao lâu?”

Trần Mộc không chớp mắt. “Nếu ông bỏ kiếm khắc phù, uống thuốc ôn đều mỗi tối, để người ngồi nói chuyện bên cạnh lúc ông mệt, và không đứng ngoài gió, thì tôi không dám nói con số. Nhưng ông sẽ sống đủ lâu để thấy mùa xuân tiếp theo, và nhiều mùa xuân sau đó.” Anh ngừng. “Tay trái có thể không hồi lại hoàn toàn. Ông cần học cầm bút.”

“Cầm bút.” Quan Hạc lặp lại, và một thứ âm thanh gần như tiếng cười khô khan thoát ra từ cổ họng ông. “Sáu mươi năm.”

Không ai nói gì. Ở rìa đá, Thanh Phong đứng giữa năm cột đèn đã tắt. Ông đã nhổ thanh kiếm cắm dưới đất, nhưng không tra vào vỏ, cứ cầm nó như cầm một con cá đã chết. Ba người đồng bạn của ông ngồi xổm thành vòng, im lặng, hai bàn tay úp lên than hồng của lò Trần Mộc đã nhóm sẵn cho họ.

Lăng Vân đến cạnh Thanh Phong, đứng một lúc.

“Ta nên nói gì với sư đệ?” ông hỏi.

“Huynh nói gì cũng được.” Thanh Phong không quay lại. “Ta không có quyền trách huynh. Ta đã đứng trong trận suốt đêm qua, mới biết đứng ở đó khó thế nào.”

“Ta đã đứng ở rìa rừng hơn một năm trước.”

“Ừ.” Thanh Phong siết chuôi kiếm. “Huynh bước ra một bước. Ta mới đến đỉnh thứ năm đêm qua, và ta cũng chỉ bước đúng một bước.” Ông ngừng lại. “Hóa ra một bước ấy mới là cái đắt.”

Hai người đàn ông đứng cạnh nhau nhìn về phía đông, nơi ánh mặt trời đang phủ lên những mái núi xa. Cuối cùng Lăng Vân khẽ đưa tay đặt lên vai sư đệ, và Thanh Phong không gạt ra.

Nàng đứng lên, lau tay vào vạt áo, bước đến giữa đỉnh đá, nơi gió thổi thẳng vào mặt.

“Tôi có đề nghị,” nàng nói, đủ to cho cả năm người đạo sĩ và người đang nằm trên chăn đều nghe. “Tôi không bắt ai quỳ, cũng không đòi phái ông trả giá cho điều đã xảy ra. Nhưng phái ông phải thôi săn những loài không hại ai. Dân Thanh Hà được làm như họ đã làm bốn đời nay, mang bánh lên hang đá mỗi mùa thu, và không có ai gác đường chặn họ.”

Thanh Phong gật đầu ngay, không do dự. “Ta nhận lời.”

“Thứ hai.” Nàng nhìn xuống Quan Hạc. “Mỗi đầu đông, các đệ tử của phái có thể lên Thanh Lung, đến nguồn nước đầu tiên. Không phải để lấy gì. Tôi sẽ ở đó. Thầy thuốc Trần Mộc sẽ dạy bài thuốc ôn cho người của ông. Ông Lăng Vân sẽ ngồi cạnh họ. Ai bệnh thì tới. Chỉ vậy thôi.”

“Chỉ vậy,” Quan Hạc nhắc lại từ chỗ nằm. “Ngươi cho ta cái đó, rồi để phái ta bỏ kiếm.”

“Tôi không để. Họ bỏ, nếu họ thấy không cần nữa.” Nàng cúi nhìn ông. “Còn ông, nếu cảm thấy mình cần một thứ để cầm, tôi sẽ nhờ thầy thuốc dạy ông cách bốc thuốc. Cầm cân dễ hơn cầm kiếm.”

Trần Mộc ho một tiếng như để nén cười. Quan Hạc quay mặt đi, mắt nhìn lên trời.

“Ta sẽ nghĩ,” ông nói rất khẽ. “Ta chưa thể nói gì hơn.”

“Thế là đủ.”

Lúc ấy, một tiếng ho dài vang lên từ rìa đá. Huyền Mãng ngồi dựa lưng vào một cột đèn tắt, mặt xám ngoét, cánh tay trái co quắp. Nàng chạy tới, quỳ xuống bên hắn, hai tay đặt lên vai.

“Ta ổn,” hắn nói, hơi thở khói trắng. “Chỉ là mệt. Ta dồn hết vào đoạn đường lên.”

“Ngươi nói dối kém lắm.”

“Ừ.” Hắn nhắm mắt. “Đưa ta về hang. Hoặc về đâu cũng được, miễn là có lửa.”

Cuối ngày, họ xuống núi bằng lối đông. Trần Mộc cõng một bên vai Huyền Mãng, Lăng Vân đỡ một bên, nàng đi trước chọn lối. Họ về đến Thanh Hà khi mặt trời đã ngả hẳn sang phía tây.

Ngoài bờ sông, bà Ngô ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ đặt sát mép nước, tay vẫn cầm chiếc muôi gỗ như thể sắp có người đến mua bánh. Chung quanh bà, rải rác trên bãi đá, hơn năm chục người đang đứng hoặc ngồi. Ông lão bán dầu, chị bán hành, ông thợ rèn, mẹ thằng A Bảo. Không ai đến nhà thầy thuốc. Không ai cầm đuốc. Họ chỉ ngồi trên bờ sông, nhìn về phía núi, từ sáng sớm.

Bà Ngô thấy nàng trước. Bà đứng bật dậy, đánh rơi cái muôi.

“Sông ấm,” bà nói, giọng gắt như mọi khi, nhưng nghe rất lạ. “Từ sáng sớm nay nước sông ấm tay. Giữa mùa đông. Bà sống đến tuổi này chưa thấy. Bà biết.” Bà lau mắt bằng mu bàn tay, nhìn nàng từ đầu xuống chân. “Đi đâu mà để người ta lo muốn chết. Ăn gì chưa?”

Nàng bước tới. Nàng nhìn những khuôn mặt quen thuộc trên bờ sông, mặt nào cũng mệt, mặt nào cũng đang nhìn nàng như nhìn một người nhà mới về.

“Chưa ạ,” nàng nói. “Con đói lắm.”