ĐĐọc Truyện
Thám Tử Siêu Nhiên Hệ Thống

Chương 7: Bản Chép Của Đinh Văn Sơn

Sáng hôm sau, giáo sư Thịnh nằm trong phòng bệnh với dây truyền dịch cắm ở mu bàn tay, nhìn trần nhà trắng như người vừa kiểm lại cả cuộc đời. Hà đứng ngoài hành lang, canh hai viên cảnh sát mặc thường phục. Bên trong, Minh Long kéo ghế ngồi cạnh giường, Vân ngồi ở đầu giường bên kia.

“Ông nói ‘giống hệt trong bản chép’,” Minh Long mở lời. “Tôi cần biết bản chép nào.”

Thịnh im lặng rất lâu. Khi ông lên tiếng, giọng đã mất hết vẻ chấm bài luận của hôm qua.

“Mười hai năm trước, Quỹ Bảo Tồn Di Sản mời bốn người chúng tôi lập hội đồng thẩm định một bộ sưu tập tư nhân. Chủ bộ sưu tập là ông Đinh Văn Sơn, một người sưu tầm sổ chép tay và đồ thờ cổ, ngoài năm mươi tuổi, nghèo, nợ nần, nhưng biết nhiều hơn tất cả chúng tôi cộng lại. Hội đồng gồm Bách, đại diện bảo tàng. Dung, phụ trách định giá bản thảo. Nghĩa, luật sư của quỹ. Và tôi, chủ tịch.”

Ba cái tên đầu tiên là ba nạn nhân. Minh Long không cần Vân nhìn mình để biết điều đó có nghĩa gì.

“Trung tâm bộ sưu tập là một cuốn sổ bốn mươi trang tên là Thủ Môn Lục. Nó mô tả Người Giữ Cửa, và cách một gia đình nuôi giữ nó trong một ngọn đèn đặt ở ngưỡng nhà.” Thịnh nuốt khan. “Bách là người thử giấy và mực. Kết quả: thật, ít nhất ba trăm năm tuổi. Cả bốn chúng tôi đều biết. Đêm ấy chúng tôi họp lại, và Nghĩa đưa ra một con số.”

“Con số?”

“Giá mà một bản chép muộn, vô giá trị, có thể bị mua lại. Nghĩa có một công ty trung gian. Chúng tôi tuyên bố cuốn sổ và gần như cả bộ sưu tập là đồ giả hoặc đồ sao chép, ông Sơn bị mất uy tín giữa giới sưu tầm, không ai dám mua, và công ty của Nghĩa mua toàn bộ với giá bằng một phần mười. Rồi bán lại từng món cho người nước ngoài.” Ông nhắm mắt. “Tôi không bỏ phiếu tán thành. Nhưng tôi cũng không bỏ phiếu phản đối. Tôi nhận phần của mình, và tôi dựng ngôi nhà đó bằng nó.”

Vân hỏi khẽ: “Ông Sơn thế nào?”

“Ông ấy đến nghe kết quả ở hành lang của quỹ. Ông không cãi. Ông chỉ nhìn chúng tôi, từng người một, như đang ghi nhớ khuôn mặt.” Thịnh mở mắt. “Ông giữ lại hai trang cuối của cuốn sổ và một ngọn đèn đồng, nói đó là phần của gia đình, không bán. Năm sau ông qua đời. Tôi nghe nói ông mất trong cảnh túng thiếu.”

“Ông ấy còn người thân?”

“Một cô con gái. Mười tám tuổi, đứng cuối hành lang hôm đó. Tôi nhớ cô bé không khóc.” Thịnh lắc đầu. “Tôi không biết tên cô ấy, không biết bây giờ cô ấy ở đâu. Tôi chưa bao giờ đi tìm.”

Minh Long chờ cho căn phòng yên lại, rồi hỏi điều mà anh buộc phải hỏi.

“Giáo sư, ba người trong hội đồng đã chết. Người thứ tư là ông, vẫn sống, và là người duy nhất biết toàn bộ câu chuyện. Một người đàn ông muốn che giấu chuyện này sẽ có lý do để dựng một cảnh như đêm qua cho người ta tin ông cũng là nạn nhân.”

Thịnh bật ra một tiếng cười khô khốc, đau đớn. “Anh nghĩ một người sáu mươi sáu tuổi tự nằm xuống giường để thứ đó thò tay về phía mặt mình? Anh đã nhìn thấy mắt tôi. Nếu tôi giả vờ, thì tôi là diễn viên giỏi nhất đất nước này.”

Vân khẽ thở ra. Cô không nói gì, nhưng Minh Long thấy cô gật rất nhẹ với anh.

Chiều hôm đó, khi giáo sư được chuyển sang một căn hộ an toàn của sở, Hà dẫn Minh Long và Vân về biệt thự. Dưới sàn gỗ cạnh chân giá sách, nơi tấm ván có thể nhấc lên, là một hộp thiếc cũ. Bên trong là một xấp giấy photocopy đã ngả vàng, đóng bằng kẹp sắt, bìa chép tay: Thủ Môn Lục, bản sao ba mươi tám trang.

“Ba mươi tám,” Vân nói. “Thiếu hai trang.”

“Hai trang ông Sơn giữ lại.”

Họ trải xấp giấy lên bàn thư phòng. Nguyên bản viết bằng một lối chữ cổ pha lẫn ký hiệu, và Thịnh đã phiên âm từng dòng sang tiếng thường bằng bút chì ở lề. Vân đọc to, chậm, ngón tay lần theo từng dòng. Nội dung là những quy tắc lập đi lập lại như bài ca của người xưa: Người Giữ Cửa sinh ra từ lòng biết ơn của chủ nhà, ngụ trong ngọn đèn đặt ở ngưỡng cửa; nó giữ cho kẻ ngay, nó tìm đến kẻ nợ; nó đi vào nhà qua dấu của chủ đèn.

Đến trang hai mươi chín, Vân dừng lại. Cô đặt đầu bút chì dưới một dòng.

“Nghe này. ‘Kẻ nợ mà tự mở cửa, đứng trước đèn nhận nợ bằng lời, Thủ Môn lui.'” Cô ngẩng lên. “Nhận nợ bằng lời. Nó không phải một lời nguyền chỉ biết giết. Nó có một lối ra.”

“Vậy tại sao ba người kia lại chết?”

“Vì họ không biết có lối đó. Hoặc người cầm đèn không muốn họ biết.”

Minh Long đứng dậy, bước tới bên cửa sổ thư phòng và nhìn ra khu vườn sẫm lại dưới hoàng hôn. Phía tây bắc, qua những mái nhà lô nhô, một cột ăng-ten có hai đèn đỏ nhấp nháy đều đặn, như đang đếm nhịp giùm cho ai.

“Một ngọn đèn đặt ở ngưỡng nhà,” anh nói. “Không phải ở nhà nạn nhân. Ở đâu đó, có một ngọn đèn đang cháy.”