Chương 32: Mùa Nước Rút
Nước rút đến đâu, bùn non lộ ra đến đó, màu nâu bóng và thơm mùi phù sa. Ruộng lúa mùa sau nhà đã cắm lại những mạ đầu tiên, từng hàng xanh non thẳng tắp nhô lên trên mặt đất ướt. Cá linh theo nước đi mất, bông điên điển rụng hết, và ở bến đò, những cột tre được chà sạch rêu, sơn lại bằng vôi trắng. Cả xã như vừa tắm xong, mệt và nhẹ.
Công trình dựng trường bắt đầu từ chân ống khói gạch. Thẩm Kình để lại Đạt và một khoản tiền gửi ở thị trấn, thuê thợ trong xã làm, trả công bằng gạo và tiền mặt mỗi chiều thứ bảy. Người giữ sổ chi phí do chính bà con đề cử, không ai bàn bạc lâu: ông Lâm. Ông ngồi mỗi sáng dưới mái lán lợp tạm, trước chiếc bàn gỗ trải sổ, ghi số gạch, số xi măng, số công, bằng cây bút bi mới mua. Chữ ông vẫn đều, nhỏ và đứng, nhưng đôi tay đã thôi run.
“Ba viết khác hồi trước nhiều không?” Thanh Thư hỏi hôm ghé thăm.
Ông ngừng bút, ngẫm nghĩ, rồi cười. “Ba viết lâu hơn. Mỗi con số ba phải nhìn xem nó có thật không rồi mới ghi.”
Thanh Thư cũng bận hơn bao giờ hết. Xưởng may của bà Hai Hạnh nhận thêm một đơn hàng đồng phục học sinh cho mấy trường quanh vùng, hai mươi bốn chiếc máy đạp chân chạy từ sáng đến chiều. Chức kế toán trưởng không còn là điều ai ngạc nhiên, và chị tổ trưởng còn bảo đã quen gọi cô là “cô Thư kế toán” đến mức quên mất cô vừa mới đến. Bà Hai Hạnh thường kéo cô ra góc xưởng, đưa cho cô cái bánh in còn nóng, vẻ mặt đầy tự hào kín đáo. “Hồi đó tôi thuê một cô giữ sổ,” bà nói, “bây giờ tôi có một người giữ cả cái xưởng.”
Ở chợ thị trấn, những người từng ngoảnh mặt giờ cười chào cô từ xa. Bà Tư tạp hóa nhét vào giỏ cô mấy trái ổi, vừa nhét vừa nói oang oang với cả hàng quán xung quanh rằng bà đã bảo từ đầu con Thư nhà ông Lâm không phải loại tầm thường. Thanh Thư mỉm cười, trả tiền ổi cho đủ, rồi đi tiếp. Cô không giận. Cô chỉ nhớ.
Chiều thứ năm, cô thấy trước cổng nhà mình có một người đàn bà gầy, mặc áo bà ba nâu, tay xách rổ xoài. Bà đứng đó, chưa dám bước vào, hai bàn tay siết chặt quai rổ.
“Bác Lụa.” Thanh Thư nói.
Bà Lụa giật mình, cúi đầu. “Cô Thư. Tôi… tôi tới thăm chị Bảy.”
Bà Bảy bước ra từ bếp, tay còn dính bột, dừng lại ở bậc thềm. Hai người đàn bà đứng nhìn nhau qua khoảng sân hẹp, người nào cũng đã già đi nhiều trong một mùa nước. Rất lâu, không ai nói gì. Rồi bà Bảy lau tay vào tạp dề, nói: “Vô nhà uống nước.”
Họ ngồi trên chiếc ván ngoài hiên. Bà Lụa đặt rổ xoài xuống giữa hai người, nhìn đăm đăm vào nó. “Xoài ở cây sau nhà tôi. Tôi biết ăn thua gì, nhưng cây nó có tội gì đâu.”
“Không tội gì.” Bà Bảy đáp.
“Tôi nợ nhà chị.” Bà Lụa nói, giọng run đến nỗi từng chữ rời rạc. “Mười tám năm ông Trần giữ ông nhà chị như giữ một con chim trong lồng, tôi biết, tôi im. Tôi tưởng im là giữ nhà. Tới khi thấy thằng Phong cầm chìa khóa đi ra khỏi cửa, tôi mới biết…” Bà ngừng lại, lấy khăn lau mắt. “Tôi không xin chị tha. Tôi chỉ muốn chị biết có người trong nhà họ Trần tới để nói chữ xin lỗi.”
Bà Bảy im lặng, rồi từ từ đưa tay ra, đặt lên mu bàn tay run rẩy của bà Lụa. Không nói gì thêm. Hai người đàn bà ngồi như vậy, giữa rổ xoài chín, cho tới khi mặt trời đổ ngả bóng trên sân.
Khi bà Lụa đứng dậy ra về, bà ngoái lại, nhìn Thanh Thư đứng ở cửa. “Thằng Phong gửi lời.” Bà nói, rất nhỏ. “Nó bảo tôi nói giùm, là nó đã đọc thư, và nó làm theo. Nó làm thợ hồ ở Sài Gòn. Nó không gửi thư nữa.”
Thanh Thư gật đầu. Cô không nói gì. Cô đứng nhìn bà đi khuất ngoài con đường đất, tay vẫn xách chiếc rổ không.
Tối đó, người đưa thư chèo xuồng đến giao một phong bì mỏng, bọc nilon, nét chữ vuông vức quen thuộc. Cô đọc nó dưới ngọn đèn dầu trong bếp, bên cạnh bà Sáu đang ngồi ghé sát nghe, hai bàn tay già đặt trên đầu gối.
“Cô Thư. Đơn vị cho tôi chuyển về Ban chỉ huy quân sự huyện sau Tết. Chưa chắc được, tôi viết trước cho cô khỏi mất công đoán. Thư trước tôi nói tôi chỉ báo trước, không bảo cô chờ. Lần này tôi nghĩ nên thôi báo trước. Nếu tôi về, tôi sẽ chỉ đến. Cô đừng chờ. Dũng.”
Bà Sáu vỗ đùi cười sằng sặc. “Cái thằng! Viết thư đi báo là sẽ không báo! Thư ơi, lần này nó điên thiệt rồi.”
Thanh Thư bật cười, cười đến chảy cả nước mắt. Cô gấp thư lại, cất cẩn thận vào ngăn tủ cạnh những lá thư khác đã xếp thành một xấp nhỏ buộc dây thun, rồi đứng dậy dọn mâm cơm. Bên ngoài, tiếng ếch nhái đã thưa dần, gió đêm mang mùi lúa non thoang thoảng.
Cô không chờ ai. Nhưng khi tắt đèn đi ngủ, cô để cửa sổ phía bến đò mở hé, như cô vẫn làm mỗi đêm, và không tự hỏi tại sao.