Chương 32: Mâm Cỗ Ngày Xuân
Đám cưới của Mai Ngọc và Trọng Nghĩa được định vào đầu xuân, khi ruộng đậu của anh Bình vừa cho vụ thu hoạch đầu tiên và mái ngói nhà bà Thơm đã ngả màu mưa nắng. Từ sáng sớm, sân nhà đã kê gần bốn chục mâm, mượn chiếu của cả làng, mượn bát đĩa của hai làng bên. Người đến không chỉ từ Trúc Khê, mà còn từ dưới xuôi, từ trên thành, người nào cũng mang theo ít nhiều quà mọn.
Cô dâu, theo lời mẹ, không được phép bước vào bếp. Nhưng Mai Ngọc đã đứng trong bếp từ canh tư, mặc chiếc áo xanh chàm cũ, chỉ khoác tạm cái áo mới lên vai, tay cầm chiếc muôi gỗ mít, nêm nồi thịt kho tương cho đến khi chị Sáu và bà Lý hợp sức nhấc cô ra khỏi bếp bằng cả hai tay.
“Hôm nay chị là cô dâu,” chị Sáu nói, kéo cô sang một bên. “Bếp để bọn em.”
“Em nêm hơi nhạt đấy.”
“Để nhạt cho khách tự chấm nước chấm. Chị dạy em mà.”
Mai Ngọc bật cười, chịu thua.
Thầy Phan đến lúc gà vừa gáy lần thứ hai, trên vai vác một con vịt đã làm sạch, vừa đi vừa lầm bầm: “Tôi đã nói một lần là một lần. Đây là lần thứ hai.” Rồi ông xắn tay áo, chiếm ngay góc bếp, bắt đầu quay vịt trên lò than hồng. Mùi vịt thơm lan sang tận hàng rào. Bà Hạnh đi sau ông, mặc áo gấm màu rêu quen thuộc, tay bưng một chiếc hộp gỗ nhỏ.
“Quà cưới của tôi,” bà nói, đặt hộp vào tay Mai Ngọc. “Mở ra đi.”
Bên trong là một cuốn sổ bìa da mới, trang giấy trắng tinh, và một chiếc bàn tính nhỏ bằng bạc, từng hạt chạm khắc tinh xảo. “Nhà nào làm ăn cũng cần sổ sách,” bà Hạnh nói, mắt hơi lấp lánh. “Cô nương đừng quên ghi đủ.”
Ông Quý đến cùng quan huyện sai người đưa quà. Ông chắp tay chào Nghĩa, rồi đưa ra một chiếc cân đòn nhỏ bằng đồng, bóng loáng. “Quà của anh em cũ,” ông nói. “Để cân cho vợ, không ai lừa được.” Nghĩa nhận lấy, hai người đàn ông đứng nhìn nhau một lúc, rồi cùng cười, tiếng cười ngắn mà nặng.
Từ phủ huyện còn có một hũ sành cổ, sáp ong đã ngả vàng, bên ngoài buộc dải lụa đỏ. Người đưa hũ nói lại lời bà cụ: “Hũ tương này bà cụ ủ ba năm trước ở quê, giữ đến giờ. Mở khi hai con có chuyện vui.”
Mai Ngọc bê hũ trong tay, thấy nó nặng ấm áp, giống hũ tương đầu tiên cô làm trong chiếc hũ sành vỡ miệng.
Buổi trưa, hai họ vào mâm. Hôm nay không có họ nhà trai, vì Nghĩa chỉ còn mình anh, nên bà Thơm đứng ra thay, nắm tay Nghĩa, đưa anh đến trước hiên mà nói với khách khứa: “Từ nay thằng này cũng là con tôi.” Anh cúi đầu, giọng nghẹn: “Con xin nhận, mẹ.”
Cụ Khải được mời ngồi mâm trên, tay cầm chén rượu run run. Cụ nâng chén đứng dậy, nón mê gác trên vai, nói to: “Thằng rể tôi dưới xuôi bảo, nhờ muối của nó mà có ngày này. Tôi bảo không phải. Nhờ cô bé Ngọc biết thử trước khi tin.” Cụ uống cạn, ngồi xuống giữa tiếng cười ồ lên.
Mâm cỗ bày thành hàng dài trong sân: gà luộc chấm nước chấm gừng mật, xôi gấc đỏ, thịt kho tương bóng loáng, cá kho riềng, dưa cải muối giòn, canh măng hầm xương. Vịt quay của thầy Phan được bưng ra cuối cùng, da vàng ròn rụm. Ông Bảo nâng chén, ông Hợi cạn chén, bà Tư ngồi cạnh bà Lý cãi nhau chuyện hũ nào ngon hơn, anh Bình ngồi im bên đĩa đậu rang của chính mình, thấy ai khen thì chỉ gật đầu một cái rất nhẹ. Anh Đức ngồi cạnh chị Sáu, hai người không nói gì, nhưng bà Thơm liếc sang, miệng mím lại giấu một nụ cười. Út Mận chạy qua chạy lại giữa các mâm, đã nếm được ba lần mỗi món mà không ai ngăn.
Khi mặt trời nghiêng về chiều, Mai Ngọc ngồi trên hiên nhà, bên cạnh Trọng Nghĩa, nhìn khoảng sân đầy tiếng cười. Anh đặt bàn tay thô ráp lên tay cô. Không ai nói gì. Trên cành xoan đầu sân, một con chim sẻ rỉa lông.
Một năm sau.
Xưởng tương Trúc Khê dựng sau nhà bà Thơm, mái ngói đỏ, tường gạch, bốn mươi hũ sành xếp thành hàng dưới giàn nắng. Bốn chục người làm công, phần đông là phụ nữ trong làng và hai làng bên. Chị Sáu giữ sổ, anh Bình giữ ruộng đậu, anh Đức đã thành chồng chị Sáu từ mùa gặt, và hai đứa nhỏ nhà chị gọi anh là bố. Cụ Khải vẫn ngồi dưới gốc đa đầu làng, nón mê trên đầu, hễ ai đi ngang là bị bắt nếm thử một hạt muối của chú Hợi chở lên, rồi cụ gật gù chấm điểm.
Hũ tương nào xuất xưởng cũng có sáp ong đóng nhánh trúc ba lá, lá giữa có vết khuyết. Tương lên thành, vào Nhã Hương lâu, vào bếp phủ huyện, vào những quán cơm nhỏ bên sông. Mỗi tuần một buổi sáng, Mai Ngọc đến một làng trong huyện, mở bàn tre ra giữa đình, làm ba phép thử muối cho bà con xem. Nhiều làng đã có người học thuộc. Cổng thành bây giờ có hai người cầm cân đứng trực, mỗi bao muối qua cổng phải nhúng nước trước mặt chủ hàng.
Mỗi tháng hai ngày, Nghĩa lên huyện kiểm sổ kho, còn lại anh ở xưởng mộc nhỏ cạnh nhà, đóng giường tủ, thỉnh thoảng đóng một cái bàn cho người nào đó gần cưới.
Chiều hôm ấy, Mai Ngọc đứng trong bếp, một tay cầm chiếc muôi gỗ mít đã sẫm màu vì dầu và khói, một tay đỡ nồi canh mới nấu xong. Ngoài hiên, mâm cơm đã kê đủ cả nhà. Mùi hành phi, mùi thịt kho tương, mùi khói bếp thấm vào áo từng người ngồi quanh mâm.
Nghĩa bước vào, đặt lên bàn một bọc lá chuối. “Em thử đi.”
Cô mở ra: hai nắm cơm muối vừng, tròn, hạt cơm dính sát nhau. Cô cắn một miếng, nhai chậm, nhìn mặt anh đang nín thở chờ đợi.
“Hôm nay anh làm vừa miệng.”
Anh thở ra, khóe miệng cong lên rất nhẹ. Ngoài sân, Út Mận đang gọi cả nhà vào ăn cơm, tiếng gọi lanh lảnh vọng qua rặng tre, đuổi theo mùi khói bếp bay lên trời chiều.