ĐĐọc Truyện
Thư Không Còn Chờ Phong

Chương 30: Ngôi Mộ Sau Nhà Máy

Ba hôm sau buổi họp dân, nước bắt đầu rút. Ở bến đò, những cọc tre cắm sát bờ để lộ ra từng đoạn vạch bùn, và từng đàn cá lòng tong quẫy bạc ở khúc nước cạn. Sáng sớm, sương mỏng phủ lên vườn chuối cháy sém sau nhà máy xay, và ở đó, trong màn sương, đã có tám chín người đứng sẵn với dao, cuốc, xẻng, những vật dụng đủ loại.

Thẩm Kình không mặc suit. Hắn mặc chiếc áo bà ba xám của người làm ruộng, ống quần xắn cao, đôi bàn tay vốn dành cho giấy tờ giờ cầm một chiếc cuốc cán dài. Bên cạnh hắn, ông Lâm đứng với chiếc liềm, Tuấn và lão Lưu lo dọn lá chuối cháy, vài người trong xóm kéo nhau tới mà không ai mời, trong đó có bà già chèo đò, tay xách bình trà.

Họ làm việc không nói. Từng thân chuối cháy bị chặt ngả xuống, lớp tro đen bị cào thành đống. Gốc bông trang nhỏ hiện dần ra giữa khoảng đất trống, thân cây mảnh, mấy chùm hoa đỏ rũ sương. Quanh gốc cây ấy, một vòng đất gò cao hơn mặt ruộng chừng hai gang tay, đã bị cỏ lấn gần hết.

Ông Lâm bỏ liềm xuống. Ông quỳ trên nền đất, dùng hai bàn tay gạt cỏ, từng nắm một. Hắn đứng nhìn ông làm, không động đậy, tay vẫn nắm cán cuốc.

“Chỗ này.” Ông Lâm nói, giọng khàn. “Đúng chỗ này. Hồi đó tôi chôn mà không kịp làm bia, chỉ lấy hòn đá cuội ở bến đặt lên. Mười tám năm nay mưa cuốn, nó chìm.”

Ông moi đất, một lúc sau lôi lên một hòn đá cuội xám, tròn, to bằng nắm tay, bám đầy rêu. Ông lau nó bằng vạt áo, đặt lên mô đất, hai bàn tay run run.

Thẩm Kình bỏ cuốc xuống. Hắn không quỳ ngay, đứng nhìn hòn đá một lúc, rồi quỳ xuống từ từ, như người đã đứng quá lâu ngoài cổng một ngôi nhà. Hắn đặt trán lên mu bàn tay chống trên đất. Không ai nhìn thấy mặt hắn. Chỉ thấy vai áo bà ba xám run lên rất khẽ.

Thanh Thư thắp nhang, cắm ba cây trước hòn đá. Khói nhang bay thẳng lên trong buổi sáng lặng gió, tan vào tầng sương. Bà già chèo đò rót trà ra từng chén, đặt trên mô đất. Một bà khác đem ra nải chuối chín, một ông lão đem ra mấy cái bánh. Chẳng ai bàn bạc với ai.

Khi mặt trời lên cao, mọi người rút dần, để lại ông Lâm đứng một mình bên mộ, môi mấp máy khấn gì đó rất khẽ. Thẩm Kình đứng dậy, phủi đất trên đầu gối, và ra hiệu Thanh Thư đi cùng ra phía bờ sông.

Họ đứng cạnh ống khói gạch còn sót lại. Hắn nhìn dòng nước, mắt hơi nheo trong ánh sáng.

“Đất nền nhà máy sẽ trả về cho tôi theo quyết định của huyện, nhưng tôi sẽ không mở lại nhà máy.” Hắn nói. “Tôi giữ cái ống khói. Phía dưới dựng trường, một trường tiểu học. Mẹ tôi hay chia bánh mì cho con nít ở bến này. Tôi muốn chỗ này vẫn có con nít chạy qua.”

“Tên trường?”

“Để bà con đặt.” Khóe miệng hắn thoáng cong. “Nếu đặt tên mẹ tôi, tôi sẽ không từ chối.”

Gió từ sông thổi tạt chiếc nón lá xuống vai cô. Cô đưa tay giữ nón, và nghe mình hỏi, trước khi kịp nghĩ: “Ông về Thượng Hải?”

“Chiều mai.” Hắn đáp. “Việc đã xong. Hai năm nữa tôi quay lại, giỗ mẹ tôi, và xem trường dựng tới đâu.”

Cô gật đầu. Có một khoảng im lặng, trong đó chỉ nghe tiếng nước vỗ vào chân cầu tàu cháy dở, và một con chim nào đó gọi nhau trên rặng bần.

“Lời thề của cô trả xong rồi.” Thẩm Kình nói. “Cô đứng ra làm chứng đúng như đã hứa, không thêm một chữ, không bớt một chữ. Tôi nợ cô nhiều hơn là cô nợ tôi.”

“Ông còn nợ ba tôi một câu trả lời.” Thanh Thư nói. “Ông đã hỏi ông ấy cầm bút thêm một lần. Ông ấy cầm rồi. Giờ ông phải nói cho ông ấy biết ông có tha cho ông ấy không.”

Hắn im lặng. Rất lâu. Rồi hắn quay lưng, đi về phía ngôi mộ, đứng sau lưng ông Lâm đang khấn. Thanh Thư không theo. Từ xa, cô thấy hắn nói gì đó rất ngắn, thấy ông Lâm khựng lại, thấy hai vai ông chùng xuống, hai bàn tay ông đưa lên che mặt. Thẩm Kình đứng đó, một tay đặt nhẹ lên vai ông.

Lúc hắn quay trở lại, trong tay cầm một vật nhỏ, nhìn như một quân cờ. Hắn mở lòng bàn tay trước mặt cô: một quân Mã bằng gỗ cũ, sơn son đã tróc nhiều, chữ khắc mờ.

“Quân này thuộc về bộ cờ cha tôi chơi mỗi chiều.” Hắn nói. “Tôi giữ nó suốt đời. Cô nói tôi không được dùng cô như quân cờ. Tôi muốn trả lại cho cô thứ gì đó thay cho cái bàn cờ.”

“Tôi không nhận.” Cô đáp, nhưng cô nhìn quân Mã rất lâu. “Đó là của nhà ông.”

“Mã bị cản chân thì đứng yên.” Hắn nói thêm, gần như tự nói với mình. “Cô là người đầu tiên cản chân tôi, đúng lúc.”

Cô mỉm cười. Cô không đưa tay ra nhận, nhưng cũng không từ chối nữa. Hắn đặt quân cờ lên thành lan can gỗ cạnh cô rồi lùi một bước.

“Tôi từng nghĩ cô đang chờ ai đó.” Giọng hắn rất nhẹ. “Hồi ở nhà vàng, cô nói cô nhìn người ta đủ lâu để biết họ làm gì lúc không ai thấy. Tôi hỏi mình, cô chờ ai. Sau này tôi hiểu cô không chờ ai cả.” Hắn cười, không còn chút mỉa mai nào. “Đó là điều tôi nhớ nhất về cô, cô Thư. Cô không chờ ai, kể cả tôi.”

Thanh Thư không đáp ngay. Cô nhìn quân Mã nằm trên thanh gỗ, nhìn ánh nắng đổ trên lớp sơn tróc.

“Anh Dũng đứng xa để ông có chỗ.” Cô nói. “Hôm cháy nhà máy. Ông biết không?”

“Tôi biết.” Hắn nhún vai. “Tôi sẽ làm điều tương tự, nên tôi đi trước khi người ta phải đứng xa.”

Hắn gật đầu chào cô, lần đầu tiên không có chút lạnh lùng, rồi quay lưng, bước lên con đường đất dẫn ra thị trấn, nơi chiếc sedan đen đang chờ. Cô đứng ở bờ sông cho tới khi bóng hắn nhỏ lại thành một chấm trong ánh nắng, và khi quay đầu lại, quân Mã vẫn nằm đó, bên cạnh khói nhang còn bay lờ lững từ ngôi mộ phía sau nhà máy.