ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 30: Mái Ngói Mới

Tiền bồi thường từ phủ huyện về đến Trúc Khê vào đầu mùa rét, chia theo sổ, từng xâu có dấu đỏ. Hội mua chung đọc to số tiền ngay giữa sân đình, từng nhà một, chị Sáu đọc, ông lý Tám làm chứng, anh Đức đếm từng xâu cho người nhận. Nhà nào cũng nhận nhiều hơn số mình gửi mua muối. Có bà lão nhận xong, ôm xâu tiền đứng khóc, bảo cả đời chưa thấy đồng tiền nào về tay mà không phải nộp đi.

Nhà bà Thơm nhận phần lớn nhất. Mai Ngọc ngồi đếm trong buồng, trên chõng tre, từng xâu một, chia ra ba phần: phần trả những người làm công, phần lo xưởng tương mới, phần còn lại bỏ vào một ống tre khác, to hơn cái cũ.

Chiều đó cô bưng cái ống tre ra hiên, đặt trước mặt mẹ.

“Con nói con trả mẹ gấp đôi.” Cô ngồi xuống bậc thềm, khoanh chân như hồi bé. “Nó đây ạ. Con tính cả lãi nữa.”

Bà Thơm không cầm lấy. Bà ngồi nhìn cái ống tre hồi lâu, rồi bà đưa tay xoa mặt ống, như xoa đầu một đứa nhỏ. Cái ống tre cũ, bà đã nhận lại rỗng ruột từ đầu mùa, vẫn cất trong hòm.

“Mẹ không cần nữa,” bà nói. “Mẹ có con.”

“Mẹ cầm đi ạ.”

“Thì mẹ cầm.” Bà nhấc ống tre lên, lắc nhẹ cho tiền lanh canh, rồi cười, lần đầu tiên Mai Ngọc thấy mẹ cười lớn như vậy, lộ cả mấy chiếc răng đã rụng. “Mẹ giữ để lo cho đám cưới của con.”

“Mẹ!”

“Mẹ nói thật đấy.” Bà liếc ra phía hàng rào, nơi có tiếng cưa gỗ vọng sang đều đều. “Mẹ già rồi chứ chưa mù.”

Mai Ngọc đỏ mặt, ôm cái nón che đi.

Mái nhà cũ của bà Thơm được dỡ vào một sáng tạnh ráo, và cả làng kéo đến. Việc dựng nhà không ai thuê, không ai ép. Anh Đức và Trọng Nghĩa lo kèo cột, anh Bình dẫn mấy chục thanh niên vác ngói từ lò gạch làng bên về, ông Bảo mang cưa, chú Hợi từ dưới xuôi lên bất ngờ cùng vợ, chở một xe muối mới làm quà. Cụ Khải ngồi giữa sân cầm nón mê gõ nhịp, miệng không ngớt chỉ trỏ như một ông tướng. Ai làm gì ra gì, nấy đều cười, không khí nhộn như phiên chợ.

Mai Ngọc đứng cùng chị Sáu và mười hai người đàn bà làm công trong bếp lộ thiên dựng ngoài sân. Ba cái nồi đồng lớn, hai cái chảo gang, một bếp đất dài chừng sải tay. Cô nấu cho cả làng.

Thịt ba chỉ kho tương, nồi to bằng cái chậu rửa mặt, dùng cả vò tương cô đã ủ từ hôm sau đám cháy. Canh rau đay nấu cua đồng, gạch nổi mảng đỏ cam. Xôi đậu xanh đồ trên chõ tre, khói nghi ngút. Dưa cải muối giòn bày ra từng mẹt. Nước chấm gừng mật pha sẵn trong những chén sứ nhỏ, để mỗi mâm đều có một bát. Cô đứng giữa khói bếp, nếm từng nồi, nêm từng thìa, tay thoăn thoắt như đã nấu bếp tập thể cả đời.

“Chị Ngọc,” chị Sáu thì thầm, tay đảo xôi, “nấu thế này cho cả làng ăn, em nhẩm tính mà xót. Hết bao nhiêu thịt, bao nhiêu tương.”

“Chị tính rồi,” Mai Ngọc cười. “Hết chừng ba trăm đồng. Nhưng chị nhìn sân nhà mình xem, bao giờ mới có nhiều người ngồi chật thế này?”

“Thế chị lời hay lỗ?”

Cô nghĩ một chút, rồi cười thật. “Chị đang giàu đây.”

Khi mặt trời lên đến đỉnh, kèo đã dựng xong, ngói đã lợp được một nửa. Người ta ngồi bệt xuống sân ăn cơm. Từng mâm một, tiếng bát đũa khua, tiếng trẻ con chạy nhảy giữa chân người lớn, tiếng cụ Khải kể chuyện đồng muối. Bà Lý ăn đến bát thứ tư, vừa nhai vừa huých Mai Ngọc, ra vẻ nghiêm trọng: “Cô giờ là bà chủ rồi nhé.”

“Cháu vẫn là con Ngọc nhà bà Thơm,” Mai Ngọc đáp. “Bà cứ gọi thế.”

“Thì bà gọi thế.” Bà Lý cười toe, miệng đầy xôi.

Anh Bình ngồi xổm ở rìa sân, cạnh túi hạt giống đậu để dành, lần đầu mặt anh có vẻ tự hào rõ ràng. Vụ đậu đông của anh đã lên xanh mơn mởn, ba sào ruộng kín mít những cây đậu cao ngang đầu gối. Làng đã nghe tin, nửa làng đã đến hỏi giống, và anh nói với từng người đúng một câu: “Để dành, đừng ăn.”

Đến chiều, mái chính lợp xong. Ngói đỏ nối nhau thành từng lớp, nắng nghiêng đổ xuống làm cả mái ánh lên màu đồng. Người ta đứng ngước nhìn. Bà Thơm đứng giữa sân, hai tay đan vào nhau, cổ ngửa lên, miệng khẽ mấp máy như đếm từng viên ngói.

“Bao nhiêu năm,” bà nói, giọng khàn. “Bao nhiêu năm mẹ chỉ mong lợp được nửa cái mái ngói cho các con.”

Anh Đức bước đến, đặt bàn tay chai sạn lên vai mẹ, không nói gì. Anh Bình đến đứng bên kia. Mai Ngọc bước đến giữa hai anh, và ba anh em đứng cạnh nhau dưới mái nhà vừa dựng, ngước nhìn.

Ở trên nóc, Trọng Nghĩa đang xếp viên ngói cuối cùng. Anh cúi xuống, thấy cô đứng ở dưới nhìn lên, cái nhìn đúng một giây. Anh nhấc tay, như đưa viên ngói ra cho cô, rồi đặt nó vào chỗ cuối cùng của đường nóc, ngay ngắn.

Sau bữa, khi khách đã tản đi và ánh chiều tắt dần, Nghĩa trèo xuống thang, lau tay vào vạt áo, đứng cách Mai Ngọc ba bước. Anh gãi gáy, chiếc nón mới tháo trên tay. Anh có vẻ lúng túng.

“Mai Ngọc,” anh nói, “sáng mai cô có rảnh không? Tôi muốn dẫn cô ra bờ ruộng sau làng.”

“Ra làm gì?”

“Có chuyện tôi muốn nói.” Anh ngừng, hơi thở nhẹ ra. “Và có một thứ tôi muốn cô xem.”