ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 29: Phán Quyết Ở Phủ Huyện

Mười ngày sau, một quan án từ phủ xuống, ngồi cùng quan huyện Mạc xử vụ hiệu muối họ Tống ngay tại chính đường. Tin đồn chạy nhanh hơn ngựa. Từ sáng sớm, sân phủ huyện đã chật người, có người đi từ làng bên, có người đi từ dưới xuôi, thậm chí cả mấy người lái đò mà Mai Ngọc nhận ra ngay từ khúc sông hẹp. Bà Thơm ngồi cạnh con gái, tay nắm vạt áo mới xanh chàm. Anh Đức, anh Bình đứng ngay sau. Phía sau nữa là cụ Khải, ông lý Tám, bà Lý, chị Sáu, ông Bảo, bà Tư chống nạng, cả Út Mận chen ở hàng đầu, nhón chân.

Ông Tống Vĩnh bị dẫn vào, tay xích, áo gấm đã đổi sang áo tù. Cái mặt béo trắng bệch của ông ta nhăn nhúm lại như quả bầu héo. Ông ta không nhìn ai, mắt dán xuống nền gạch.

Quan án là người đứng tuổi, giọng sang sảng, đọc bản án từng đoạn một. Đoạn đầu kể tội: bán muối ngâm nước, trộn cát, phủ mặt muối khô, lừa dối dân chúng và phủ huyện suốt mười lăm năm. Đoạn thứ hai: đút lót quân quan, sửa sổ kho, vu oan người ngay. Đoạn thứ ba: mưu hại thân mẫu quan huyện, sai người đốt nhà dân.

Khi đọc đến hình phạt, cả sân im như tờ.

“Tống Vĩnh bị tịch thu toàn bộ gia sản, cấm vĩnh viễn buôn muối, phạt tù mười năm. Chu, thư lại hiệu muối, vì tự thú và dâng sổ thật, được giảm xuống làm thư lại cho huyện ba năm chuộc tội. Mão và gã sẹo, kẻ đốt nhà, phạt khổ dịch. Viên chỉ huy trại biên ải thời trước và thư lại sửa sổ, vụ án chuyển về phủ.”

Một tiếng thở ra dài từ đâu đó trong đám đông. Rồi rất nhiều tiếng thở ra, như gió lùa qua một cánh đồng lau.

Quan án giơ tay. “Tài sản tịch thu được sung vào quỹ bồi thường. Nhà bếp phủ huyện, Nhã Hương lâu, các quán ăn trong thành, các hộ ở Trúc Khê bị hại sẽ được tính theo sổ, trả theo thiệt hại. Phần còn lại dùng lập kho muối công của huyện, mỗi bao nhập thành đều phải qua thử trước cổng, theo ba phép mà người nông dân Trần Mai Ngọc làng Trúc Khê đã trình bày.”

Mai Ngọc ngạc nhiên đến nỗi quên cả cúi đầu. Bà Lý huých cô một cái. Cô cúi xuống vội, nghe tim đập thình thịch.

“Còn nữa. Hội mua chung của làng Trúc Khê, mua muối thẳng từ ruộng, đã nộp thuế đúng lệ, được huyện chấp thuận hoạt động hợp pháp.” Quan án đọc xong, nhìn xuống. “Võ Trọng Nghĩa.”

Trọng Nghĩa bước ra, quỳ một gối. Mai Ngọc thấy lưng anh thẳng như cột.

“Danh tính của ngươi bị gạch oan mười năm trước, nay phủ xác nhận sổ quân trại đã bị sửa. Phủ sẽ gửi giấy minh oan về làng ngươi, tên ngươi được khôi phục trong sổ.” Giọng quan án dịu đi chút ít. “Quan huyện Mạc xin cho ngươi giữ chức coi kho lương của huyện. Ngươi nghĩ sao?”

Cả sảnh quay nhìn anh. Anh im một lúc. Mai Ngọc nghe tiếng thở của bà Thơm bên cạnh nhẹ hẳn đi, bà đang chờ.

“Thưa quan, tiểu dân tạ ơn.” Nghĩa nói, giọng thấp mà rõ. “Nhưng tiểu dân quen cái bào hơn cái cân. Làng Trúc Khê còn nhiều nhà chưa có giường có tủ. Tiểu dân xin mỗi tháng đến huyện hai ngày kiểm sổ kho, còn lại xin về làng đóng đồ.”

Quan huyện bật cười thành tiếng, lần đầu từ nhiều tuần nay. “Được. Hai ngày.”

Khi người ta dẫn Tống Vĩnh ra, ông ta đi ngang chỗ Nghĩa quỳ. Bước chân ông ta chậm lại. Lần đầu tiên ông ta ngẩng lên, nhìn Nghĩa chằm chằm, đôi mắt vằn đỏ như mắt người vừa tỉnh cơn mê.

“Ngươi là ai?” ông ta khàn giọng hỏi. “Ta đã thấy ngươi ở đâu?”

“Người đã không ký,” Nghĩa đáp, không đổi sắc mặt.

Tống Vĩnh đứng khựng lại. Môi ông ta mấp máy. Rồi hai lính kéo tay xích, đưa ông ra khỏi cửa. Bóng ông ta mất hút giữa ánh nắng trưa gay gắt, nhỏ lại dần, không ai đưa mắt nhìn theo.

Sau phiên xử, trong sân sau phủ huyện, quan huyện Mạc cho mời Mai Ngọc. Bà cụ đã ngồi sẵn trên ghế mây dưới cây mít, khoác áo lụa nhạt, mặt hồng hào hơn nhiều so với ngày mừng thọ. Trên bàn đá trước mặt bà là một bát canh cua đã ăn gần hết.

“Con bé.” Bà cụ ngoắc ngón tay. “Lại đây.”

Mai Ngọc bước tới, cúi chào. Bà cụ nắm tay cô, lật ngửa lòng bàn tay cô lên, xem những vết chai vết sẹo li ti do lửa bếp và muối.

“Ta muốn mỗi tháng một mẻ tương, một mẻ nước chấm. Giá gấp đôi, ta trả.” Bà ngừng, rồi nhìn con trai. “Còn thằng này muốn thưởng ngươi, ta hỏi trước: ngươi muốn gì?”

Quan huyện gật đầu. “Bạc, ruộng, cô nương cứ nói.”

Mai Ngọc nghĩ một chút. Rồi cô cười, lắc đầu. “Thưa ngài, con không muốn bạc, không muốn ruộng. Con chỉ xin ngài cho phép con dạy ba phép thử muối ở các làng. Mỗi làng chỉ cần có một người biết. Biết thì không ai lừa được nữa.”

Quan huyện nhìn cô lâu, rồi quay sang mẹ. Bà cụ nhếch mép, đắc ý như bà mới là người nghĩ ra việc đó.

“Ta ban lệnh,” quan huyện nói. “Làng nào trong huyện cũng phải có người biết ba phép này, và cô nương sẽ là người dạy.”

Mai Ngọc cúi đầu thật sâu. Khi cô đứng thẳng lên, qua vai quan huyện, cô thấy ở mép sân Trọng Nghĩa đang đứng, tay cầm chiếc nón đã bạc màu, nhìn về phía cô.

Anh không cười. Nhưng ánh mắt anh sáng lên, nhẹ nhàng, như ánh bình minh đầu tiên trên cánh đồng muối.