ĐĐọc Truyện
Thư Không Còn Chờ Phong

Chương 27: Bến Cây Bần Gãy

Đoàn xác minh của huyện tới vào giữa trưa, hai chiếc ghe máy sơn xanh cập bến đò giữa đống tro vẫn còn bốc khói. Người đầu tiên bước lên bờ là ông Bảy Thuận, kính gọng sừng, chiếc bình nước thiếc đeo chéo vai, giày dính bùn đến mắt cá. Ông đứng nhìn bộ khung nhà máy cháy đen một lúc lâu, không nói gì, rồi quay sang người cán bộ đi cùng: “Ghi lại. Ngày hai mươi, vụ cháy.”

Thanh Thư đứng cạnh bà già chèo đò, chưa kịp bước tới, thì phía sau lưng cô có tiếng xuồng cập bờ. Hữu Phong bước xuống. Mặt anh ta tái nhợt, bên gò má trái in rõ vệt đỏ tím của một cú tát, tay trái còn nẹp, tay phải ôm chặt gói vải bạt trước ngực.

Anh ta không nhìn cô. Anh ta đi thẳng về phía ông Bảy Thuận, đứng thẳng người, chào theo thói quen cũ của cán bộ.

“Thưa đồng chí thanh tra. Tôi là Trần Hữu Phong, thư ký Ủy ban xã, con trai ông Trần Văn Cẩn.” Giọng anh ta khản đặc, nhưng rõ từng chữ. “Tôi xin nộp tài liệu liên quan đến đất bến đò và biên bản kiểm kê năm bảy mươi tám.”

Dưới ánh nắng, những người đứng quanh bến lặng đi. Ông Thuận nhận gói vải, mở ra, lấy hai tờ giấy cuộn tròn trải trên một mặt thùng gỗ. Một tờ văn tự đóng dấu của chính quyền cũ, nét chữ Hán và chữ quốc ngữ xen nhau. Một tờ giấy biên nhận ố vàng, chữ ký của Trần Văn Cẩn, dấu đỏ của tập đoàn sản xuất, ngày mười bốn tháng ba năm bảy mươi tám, ghi rõ: “Tạm giữ tài sản để kiểm kê: gạo, máy xay, ghe lúa. Không có vàng.”

Ông Thuận đọc xong, lặng lẽ tháo kính ra, lau, đeo lại. “Anh Phong, anh biết nộp cái này thì anh cũng phải chịu trách nhiệm cho những gì anh đã ký trong hai năm qua không? Giấy đi đường cho mấy cái ghe lạ, tôi có danh sách rồi.”

“Tôi biết.” Phong đáp ngay, không chần chừ. “Tôi ký mười bốn lần. Tôi nhận tiền ba lần. Tôi xin khai hết.”

Thanh Thư thấy anh ta nuốt khan, ngón tay chạm nhẹ vào túi áo ngực rồi buông ra. Khi anh ta bước theo người cán bộ lên ghe, anh ta vẫn không ngoảnh lại. Nhưng lần này, cô biết anh ta không ngoảnh lại vì anh ta đã đi đúng đường.

Buổi chiều, đoàn xác minh họp ở trụ sở Ủy ban. Dũng và vị đại đội trưởng của anh có mặt, ngồi cạnh một cán bộ công an huyện. Thanh Thư được mời vào với tư cách người làm chứng. Cô ngồi cuối bàn, nghe người ta bàn chuyện bắt Tư Sẹo. Gã mất hút giữa rừng ngập, không ai biết nơi trú. Cuộc họp dân được ấn định vào chiều hai mươi hai. Nếu gã trốn thoát, mọi người đều hiểu những lời khai chống ông Trần sẽ mất đi một nhân chứng sống.

“Gã phải về đường cũ.” Dũng nói sau cuộc họp, khi hai người đứng một mình ngoài hiên. “Gã chạy tới biên giới là nơi gã có người đón. Nhưng gã cần biết bến đón ở đâu, vào lúc nào. Mà đầu mối của gã ở đây đã bỏ trốn.”

Thanh Thư nhìn mặt nước phản chiếu màu trời xám, và một ký ức bất chợt trồi lên, từ hàng trăm trang sổ cái cô đã chép qua tay.

“Anh Dũng.” Cô nói. “Anh đi với tôi tới xưởng may.”

Trong văn phòng ngập nửa nền gạch của xưởng, bà Hai Hạnh đã dọn hết sổ sách lên gác. Thanh Thư lục trong hộc tủ, rút ra xấp phiếu giao nhận, loại phiếu giấy mỏng màu hồng mà Quang vẫn ký tên khi nhận hàng. Cô trải chúng lên bàn, lật từng tờ. Sáu tờ, sáu ngày khác nhau. Ở dòng ghi chú cuối mỗi tờ, bằng nét chữ nguệch ngoạc của người quản lý đã bỏ trốn, có cùng một chữ viết tắt: “BCBG – 2g – ròng”.

“Tôi cứ tưởng là ký hiệu kho.” Cô nói chậm rãi, ngón tay chỉ từng dòng. “Nhưng sáu tờ đều giống nhau. Bến Cây Bần Gãy. Hai giờ sáng. Nước ròng.”

Dũng cúi xuống nhìn, lông mày nhíu chặt. “Cây Bần Gãy… ở thượng nguồn có một cái bến hoang. Đúng là gần đường thủy chạy về phía biên giới.” Anh ngẩng lên, đôi mắt sáng lên một ánh mà cô chưa từng thấy. “Cô biết nó đáng giá bao nhiêu không?”

“Tôi chỉ biết sổ sách không nói dối.”

Đêm hai mươi mốt, nước ròng xuống thấp hơn bất kỳ đêm nào trong tháng. Ba chiếc xuồng của đơn vị biên phòng và công an huyện nằm khuất sau một dải dừa nước, tắt máy, tắt đèn, mùi bùn non nồng nặc trong mũi. Thanh Thư ngồi trong chiếc xuồng thứ hai cùng Dũng và Đạt, khăn trùm kín đầu, tay nắm chặt thành mạn. Thẩm Kình ở lại ngoài bờ theo lời cô dặn, mặc dù cô thấy rõ hắn muốn đi.

Hai giờ sáng. Bốn bề chỉ có tiếng côn trùng và tiếng bùn ọp ẹp. Cách chừng ba chục mét, một thân cây bần cụt đầu, gãy ngang, chĩa lên bầu trời như một ngón tay cụt.

Một tiếng sột soạt rất khẽ vang lên từ trong rặng tràm. Một bóng người lảo đảo bò ra mép bùn, quần áo rách bươm, mặt mũi đen nhẻm. Vết sẹo vắt ngang má lóe sáng khi gã ngẩng đầu nhìn quanh. Gã đưa hai ngón tay lên miệng, huýt một tiếng sáo ngắn. Không ai đáp. Gã huýt lần nữa, rồi lần nữa, mỗi lần một nhanh hơn.

“Giờ!” Dũng thì thầm.

Ba ngọn đèn pha cùng lúc bật sáng, trắng toát, quét thẳng lên bờ bần. Tiếng loa vang lên: “Đứng yên! Công an huyện!” Tư Sẹo giật mình quay phắt lại, nửa người lún trong bùn. Gã chộp lấy một thanh gỗ mục, loạng choạng bước hai bước rồi ngã dúi xuống, mặt đập vào lớp bùn nhão. Mấy người lính lao tới, đè nghiến người gã xuống bùn. Cả cuộc truy bắt kéo dài không đầy một phút.

Khi gã bị lôi lên bờ, hai tay trói sau lưng, bùn bê bết đến tận cổ, gã ngẩng đầu và bắt gặp ánh mắt Thanh Thư đứng ở mũi xuồng. Gã nheo mắt, nhìn cô rất lâu, rồi nhổ ra một ngụm bùn.

“Mày biết cái bến này từ đâu?” Gã khàn khàn hỏi.

“Từ cuốn sổ cái.” Thanh Thư đáp.