ĐĐọc Truyện
Thập Niên 80: Vợ Quân Nhân

Chương 23: Mùa Xuân Không Có Thư

Thư của Quân đến đều như đồng hồ. Thứ Năm hàng tuần, người phát thư mang chiếc xe đạp cũ rung chuông leng keng dưới sân, và cả hành lang biết ngay đó là thư của nhà thượng úy. Lá đầu tiên có đúng mười sáu dòng, anh đếm cho cô thấy bằng cách đánh số nhỏ bên lề, như làm trò với một người bạn. Lá thứ hai dài hai trang. Lá thứ ba, anh kể chuyện Tùng được xuất viện, xin vào đại đội làm liên lạc bằng bàn tay còn lại ba ngón, vừa nhận lệnh đã làm đổ cả nồi canh. Lá thứ tư, anh viết: “Đêm nay trăng sáng quá. Anh nghĩ nếu em ở đây, em sẽ chê anh thổi kèn chưa hay, nhưng anh đang tập. Anh đã thuộc nốt thứ tư.”

Diệu Linh giữ tất cả trong chiếc túi nhỏ có khuy cài mà cô khâu thêm cho mình, đúng cái kiểu cô làm cho anh.

Tổ may áo bông không giải tán sau Tết. Chính trị viên Hòa gửi về một hợp đồng mới: khâu túi cứu thương, may áo mưa vải bạt cho bộ đội đi rừng. Tám người đàn bà trong tổ nay đã thành mười hai, vì ai cũng nghe tiếng và muốn vào. Có chị là vợ của một chiến sĩ đã hy sinh, ngồi may suốt ngày không nói một lời, chỉ nhìn kim đi. Linh dành cho chị chiếc máy gần cửa sổ nhất, nơi có nắng, và không ai hỏi gì.

Tháng Ba, cây bàng ngoài sân đâm lộc. Chiếc nạng của Quân, cô nghe trong thư, đã đổi thành một cái gậy. Bà Lành dạy cô gói bánh gai, làm mứt gừng, đan cổ giày. Bà không còn gọi cô là “mày”. Đôi khi bà lỡ miệng, rồi nuốt xuống, hắng giọng sửa thành “con”.

Cuối tháng Tư, một lá thư đến, ngắn bất thường:

“Linh, anh khỏe. Đơn vị có nhiệm vụ mới, có thể mấy tuần anh không viết được. Em đừng lo, ăn cơm đúng bữa, nói với mẹ anh không sao. Anh vẫn tập thổi kèn mỗi tối. Quân.”

Cô đọc đi đọc lại. Những ngày sau, cô tự nhủ chưa có thư là chưa có chuyện, rằng đường xa, rằng thư đi chậm. Nhưng tuần đầu qua, thứ Năm chẳng có tiếng chuông xe đạp. Tuần thứ hai, cũng không. Tuần thứ ba, người phát thư đi ngang dưới sân, nhìn lên, rồi lặng lẽ lắc đầu với chị Loan đang đứng ngoài hành lang.

Thư của anh Cường cũng không đến.

Chị Loan bắt đầu làm việc như người đuổi theo cái gì đó. Chị dậy từ năm giờ, giặt hết quần áo, chùi nhà, quét sân, cho Bi đi học, rồi ngồi đạp máy khâu từ sáng đến tối mà không nói. Một chiều, Linh đến ngồi cạnh chị trong gian sinh hoạt, cầm giúp chị cuộn chỉ. Chị Loan đạp thêm vài mũi, rồi dừng lại, hai tay buông trên bàn.

“Em có sợ không?” chị hỏi.

“Em sợ,” Linh nói thật.

“Chị cũng sợ.” Chị Loan cúi đầu. “Chị sợ nhất là nghĩ. Nghĩ đến lúc nào đó có người mặc quân phục đứng ngoài sân như lần trước.”

Linh nắm tay chị. Cô không nói gì, vì cô cũng đang nghĩ đúng điều đó. Nhưng cô đang nghĩ thêm một thứ nữa mà không dám nói ra, thứ khiến lưng cô lạnh toát mỗi đêm. Ở đời trước, cô từng xem dở một bộ phim tài liệu trên điện thoại, người dẫn chuyện nói về những mùa xuân, mùa hè dài trên các cao điểm vùng biên giới: những đại đội giữ chốt hàng chục ngày liền, không một tin tức nào ra được bên ngoài. Cô đã nghe những câu ấy như nghe một chương lịch sử. Giờ nó là tên những người cô quen.

Đêm nào bà Lành cũng thức. Linh nằm nghe tiếng bà trở mình dưới chiếu, tiếng ngón tay lần chuỗi cườm cũ, thứ bà mang từ quê lên, giấu kỹ trong gối. Có đêm bà ngồi dậy, im lặng mài cái dao cùn đã mài suốt nửa tháng. Có đêm, Linh nghe bà thì thầm với bức ảnh trên đầu giường, tiếng bà khàn, bằng thứ tiếng của người nói với con thuở nhỏ: “Thằng ranh. Con mà không về thì mẹ không tha.”

Một sáng đầu tháng Năm, trời vừa mưa phùn, tiếng bước chân hối hả vang lên ngoài hành lang. Chị Hạnh bước vào gian sinh hoạt, ướt hết nửa vai áo, tay cầm tờ giấy.

“Cô Linh, ra đây tôi nói chuyện.”

Họ đứng ở ngoài hiên. Chị Hạnh hạ giọng. “Hậu cần Trung đoàn và Hội phụ nữ đã quyết định tổ chức một đoàn đại biểu lên thăm các đơn vị ở tuyến cuối. Có nhiều đơn vị mất liên lạc kéo dài, tinh thần nặng nề. Đoàn sẽ mang theo quà, thuốc, và hai nghìn chiếc áo mưa, túi cứu thương của tổ ta may. Đi mười ngày. Tôi cần người đại diện cho các chị em trong tổ để trao tận tay.” Chị nhìn thẳng cô. “Tôi muốn cô đi.”

Linh đứng im. Gió lùa vào làm tờ giấy trong tay chị Hạnh khẽ run.

“Có nguy hiểm không ạ?”

“Có. Đường xấu, mưa nhiều. Đoàn sẽ dừng ở trạm quân y tuyến trước, không lên chốt.” Chị Hạnh nhìn cô lâu hơn. “Tôi không dám hứa cô gặp được ai. Tôi chỉ dám hứa cô sẽ đến gần hơn là ngồi đây.”

Cô quay lại nhìn vào trong. Bà Lành đang đứng ở cửa gian sinh hoạt, hai tay đan vào nhau, đã nghe hết.

“Mẹ,” cô nói.

Bà Lành không đáp, môi mím chặt. Rất lâu sau, bà quay vào, và lúc trở ra, trên tay bà là cái áo bông dày cô chưa từng thấy, vải nâu đã cũ, lót thêm một lớp len, đường chần chi chít như rệp.

“Áo của thằng Quân hồi nó mười lăm,” bà nói, giọng ráp. “Tao giữ lại. Con mặc vào. Trên núi ấy, đêm rét lắm.”

Linh nhận lấy áo, nặng trịch, mùi nắng và long não.

“Con sẽ về.”

“Con phải về,” bà Lành nói. “Đừng có để mẹ ngồi ngóng hai đứa.”