ĐĐọc Truyện
Vương Phi Giả Ngốc

Chương 21: Lời Nhắn Trong Bụng Con Ve

Minh Châu khép tay quanh con ve ngọc và đứng dậy, vẻ mặt của một người đi thay nước.

“Thưa ma ma, chậu này nguội rồi.”

Bà Tiết không ngẩng đầu. “Đổ đi. Ngoài cửa có thùng nước sôi.”

Phía sau tấm bình phong gỗ đặt bên chậu rửa, Minh Châu quay lưng về phía căn phòng, xoay nhẹ hai cánh con ve theo đường nối mảnh. Chúng không mở ra như hộp. Cô phải dùng đầu cây kim bạc luồn vào khe, bẩy từng chút, nghe một tiếng tách rất khẽ. Hai nửa tách rời, rỗng ruột như vỏ quả hạch. Bên trong, nhét chặt, là một cuộn lụa mỏng cỡ hạt gạo.

Cô trải nó ra lòng bàn tay. Chữ viết bằng mực siêu nhỏ, từng nét nhỏ như chân kiến, ép đầy cả hai mặt. Cô nheo mắt, nghiêng về phía ánh nến.

Bệ hạ chưa mất. Quy tức tán, sáu ngày sáu đêm, hết hạn tự tỉnh vào giờ Dậu ngày rằm. Nếu cần gọi sớm, dùng Tỉnh hồn thang năm vị, tỉ lệ ghi ở mặt sau, sắc ba lần. Chớ để liệm kín quá hai canh giờ, trong quan tài không có khí. Chiếu thư và nửa hổ phù còn lại khâu trong lớp lót đai ngọc. Người đọc được dòng này là người của Bệ hạ. Xin cứu Bệ hạ. Trần Cẩn.

Cô đọc lại một lần, rồi một lần nữa, tay vẫn vững, nhưng đầu gối lại muốn khuỵu xuống. Bệ hạ chưa mất. Cả kinh thành đang khóc một người đang ngủ.

Cô thuộc lòng năm vị thuốc và tỉ lệ ghi ở mặt sau trong thời gian một người bình thường chỉ kịp thở hai hơi. Rồi cô cuộn mảnh lụa lại, nhét vào dải băng quanh cẳng tay bên cạnh nửa con hổ ngọc đầu tiên, ghép hai nửa con ve với nhau và đi trở lại giường.

Chỉ có Hà công công nhìn cô. Cô đặt con ve về dưới lưỡi Hoàng đế bằng đầu khăn, khép hàm ông, không nhanh không chậm. Khi cô ngẩng lên, ánh mắt viên thái giám già đã chuyển sang chỗ khác.

Phần việc cuối cùng của đêm là mặc long bào. Bà Tiết và Mai nâng thi hài lên, Minh Châu quấn đai ngọc quanh eo ông, dùng cả hai tay cài khóa. Đai gồm hai mươi tấm ngọc xanh đính vào lớp da lót. Cô lần ngón tay dọc theo mặt trong, và ở đoạn sau lưng, nơi hai lớp da dày dặn hơn mức cần thiết, cô thấy đường chỉ khâu thô hơn những đường khác.

Cô lấy kim bạc bẩy chỉ, rút ra một gói lụa dẹt: nửa con hổ ngọc thứ hai, và một tờ giấy vàng cuộn nhỏ có triện đỏ.

Cô cầm lên đối chiếu với nửa kia trong tay áo. Hai mặt gãy khớp nhau không hở một sợi tóc. Một con hổ trọn vẹn, chỉ có người cha đã khuất mới nghĩ ra cách chia nó làm đôi, giao cho hai người cùng cầm.

Cô chỉ vừa kịp giấu cả hai thứ đó vào áo thì có tiếng chân đông đúc ngoài hành lang. Cửa mở, ánh đèn lồng tràn vào, và Hà công công cúi gập người: “Bẩm đại nhân.”

Người đàn ông đi đầu chừng năm mươi, cao và mảnh, mặc triều phục màu xanh đậm có thêu hạc. Gương mặt dài, hốc má sâu, chòm râu cắt tỉa tỉ mỉ, đôi tay thon thả để buông trước người như tay một thầy đồ. Khi ông ta nhìn thi hài và khẽ nhíu mày, Minh Châu thấy đường mũi dốc thẳng nơi sống mũi, đúng cái đường mũi cô vẫn thấy mỗi sáng trong tấm gương đồng ở phòng trang điểm.

Trần Bá Khiêm. Cha của Trần Ngọc.

“Đã xong chưa?” Giọng ông ta mỏng và lạnh. “Canh năm là đại liệm. Thái tử điện hạ không thể chờ.”

Phía sau ông ta có hai Lễ quan, một người trẻ tuổi, một người đã cao tuổi mặt đầy nếp nhăn, và bốn thái giám khiêng quan tài nhỏ. Bà Tiết định cúi người đáp lời, nhưng Minh Châu đã quỳ xuống trước.

“Bẩm đại nhân.”

Căn phòng lặng đi. Một ngỗ tác tự mở miệng trước mặt Thượng thư là điều chưa từng xảy ra. Bà Tiết quay phắt đầu, mặt tái xanh.

“Thánh thể chưa định,” Minh Châu nói, hạ giọng thành thứ giọng khàn cô vẫn dùng khi thẩm vấn người nhà nạn nhân. “Hàm chưa cứng, khớp vẫn mềm, mắt chưa khép hẳn. Theo lời các bậc ngỗ tác đời trước, thi chưa định mà liệm là phạm đại kỵ, hồn bị nhốt, quốc vận không yên.”

“Ngươi là ai mà dám nói chuyện với bản quan?” Trần Bá Khiêm rít lên.

“Thưa đại nhân, nó là học trò tôi.” Bà Tiết lấy lại giọng, nuốt nước bọt. “Nhưng quả có chuyện đó. Các cụ bảo, xác chưa định mà đóng nắp thì ba năm sau trong nhà có tang.”

Vị Lễ quan già bước lên, vuốt chòm râu. “Cổ lễ quả có ghi. Thượng thư đại nhân, hạ quan nhớ năm Tiên đế băng hà cũng hoãn liệm nửa ngày vì thế.”

“Lão nô cũng thấy mắt Hoàng thượng chưa khép,” Hà công công nói, nhẹ như gió, và Minh Châu không dám nhìn về phía ông ta.

Trần Bá Khiêm im lặng. Ông ta nhìn thi hài, nhìn các Lễ quan, và cô thấy một giọt mồ hôi lăn xuống thái dương ông ta dù trong phòng đang đặt bốn chậu băng. Một người đang vội, vội đến mức sợ hãi, nhưng không thể đạp lên lễ nghi trước mặt chính các quan của Lễ bộ mình. Ông ta có thể bán đi ba châu biên ải mà không chớp mắt, nhưng không dám bỏ qua một điều cấm kỵ đã được hai Lễ quan nhắc tới.

“Một ngày,” cuối cùng ông ta nói qua kẽ răng. “Chỉ một ngày. Canh năm mai đại liệm, không chậm hơn. Ta sẽ báo với Thái tử.”

Ông ta quay đi, rồi dừng lại. Ánh mắt ông ta trượt xuống người phụ nữ đang quỳ, dừng trên cổ cô, nơi nút khăn đã lỏng.

“Ngươi,” ông ta nói chậm. “Ngẩng mặt lên.”

Mai nín thở bên cạnh cô. Minh Châu giữ nguyên tư thế, mắt dán vào mặt đá. Cô có thể nghe tiếng thở của chính mình.

Từ ngoài hành lang, một tiểu thái giám chạy vào, thở hổn hển: “Đại nhân! Thái hậu cho mời Thượng thư đại nhân lập tức sang Từ Ninh cung.”

Trần Bá Khiêm khựng lại, hít vào một hơi. Ông ta nhìn cô thêm một khắc, nhíu mày như đang cố nhớ ra điều gì, rồi bước nhanh ra cửa, áo thêu hạc quét qua nền đá, đám Lễ quan lục tục đi theo sau.

Cửa đóng lại. Bà Tiết khuỵu xuống ghế, thở ra một hơi dài. “Cô gái điên,” bà thì thầm. “Cô muốn chúng ta bị chém hết sao?”

Hà công công không nói gì. Ông ta chậm rãi bước đến cửa, kéo then cài, rồi quay lại. Tay vẫn giấu trong tay áo, giọng vẫn nhẹ, nhưng lần này Minh Châu nghe ra điều gì đó lạ, như một sợi dây đã căng quá lâu vừa được buông.

“Cô nương,” ông ta nói. “Cô nương còn điều gì muốn nói với lão nô không?”