ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 22: Người Của Phủ Huyện

Hai người lính đứng chắn cổng nhà bà Thơm, giáo dựng thẳng, mặt nghiêm như tượng. Giữa sân, một người thư lại gầy gò áo thâm ngồi trên chiếc ghế mượn của bà Lý, tay mở cuộn trát, chốc chốc lại liếc lên, nhìn hàng rào tre chen chúc người xem.

“Theo đơn của hiệu muối họ Tống,” ông ta đọc, giọng đều đều như tụng kinh, “nhà bà Trần Thị Thơm bị tố hai tội. Một, bán tương dưa có độc, khiến người ăn đau bụng nôn mửa, có hũ làm chứng. Hai, mua muối không qua cổng thành, trốn thuế muối của quan.”

Anh Đức đứng sau lưng em gái, nắm tay đến trắng bệch. Bà Thơm ngồi ở bậc thềm, mặt nhợt nhạt nhưng lưng thẳng. Mai Ngọc bước lên một bước, chắp tay.

“Dạ, thưa thầy. Cho phép con trình từng việc một.”

Cô gọi ông lý Tám đưa ra tờ biên nhận đóng dấu đỏ của huyện thu muối. Người thư lại đọc kỹ từng chữ, đối chiếu với số thẻ tre buộc trên ba chục bao muối xếp trong sân đình. Ông ta gõ ngón tay xuống từng bao, nhẩm số, nhìn ngày tháng, nhìn dấu. Lâu sau, ông ngẩng đầu, mặt chùng xuống một chút.

“Biên nhận này… đúng lệ.”

“Còn hũ làm chứng,” Mai Ngọc nói, “xin thầy cho con xem.”

Người lính bên cạnh đặt cái hũ sành có sáp ong nhánh trúc ba lá lên chiếc bàn. Mai Ngọc lấy mẩu gỗ mít từ túi, ấn vào mảnh sáp, đặt cạnh dấu trên hũ. Cô chỉ vào chiếc lá giữa. Bà Tư, được ông lý Tám đi mời tới, chống nạng đứng ở hàng đầu, kể lại chuyện chợ phiên bằng cái giọng ráp của người đã làm tương hai chục năm. Út Mận, đứng chen giữa hai người lớn, kể thêm chuyện chú mặt sẹo, líu lo như chim sẻ.

Người thư lại nghe, đôi mày dần dần giãn ra. Ông gập cuộn trát lại, tằng hắng.

“Tôi chỉ làm theo trát, nhưng hũ tương này…” Ông nhìn hũ, rồi nhìn Mai Ngọc. “Tôi sẽ nói như thế với quản gia.”

“Quản gia nào, thưa thầy?” bà Lý buột miệng.

Chưa ai kịp đáp thì ngoài cổng có tiếng vó ngựa chậm. Một người đàn ông cưỡi ngựa nâu đi vào, dáng gọn, áo dài thâm, râu cắt ngắn, tuổi chừng bốn mươi. Hai người lính đứng nghiêm. Người thư lại bật dậy khỏi ghế.

Ông xuống ngựa, vén vạt áo, chắp tay chào bà Thơm trước, rồi mới quay sang thư lại. “Ta đi ngang qua, nghe nói vụ này. Thầy cứ ghi đúng lệ.” Rồi ông đưa mắt nhìn quanh sân. Ánh mắt ông dừng lại ở người đang đứng im cạnh bụi chuối sau chái ủ, chiếc nón đã tháo.

“Đội trưởng.”

Trọng Nghĩa bước ra. Anh chỉ gật đầu, nhưng vai anh hơi cứng. “Anh Quý. Đừng gọi tôi như thế.”

“Anh Nghĩa.” Ông Quý nói lại, giọng thấp, khẽ khàng. Hai người nhìn nhau, không ai chạm vào ai, nhưng Mai Ngọc thấy rõ cái cách hai người đàn ông đứng cùng một khoảng cách như hai người từng chia nhau một bát cơm.

Chuyện thủ tục xong rất nhanh. Người thư lại ghi vào sổ: biên nhận đúng lệ, hũ làm chứng là hàng giả mạo dấu, đơn tố cáo không đủ căn cứ. Ông thư lại và hai người lính ra về trước. Còn lại ông Quý, đứng giữa sân nhà bà Thơm, đón bát nước chè bà Lý bưng ra.

“Thưa cô nương,” ông nói với Mai Ngọc, “nghe nói tương nhà cô nương ngon. Tôi xin phép nếm.”

Mai Ngọc bưng ra bát cơm trắng, đĩa rau luộc, một chén tương và một chén nước chấm gừng mật. Ông Quý ăn chậm, cẩn thận, như người quen nuốt từng thứ một. Ông nếm tương trước, rồi nước chấm, rồi lại tương. Cuối cùng ông đặt đũa xuống, im lặng một lúc, và Mai Ngọc nhận ra mắt ông hơi long lanh.

“Bà cụ nhà tôi, thân mẫu quan huyện, quê ở vùng này,” ông nói chậm. “Hồi còn ở quê, bà tự làm tương như thế. Từ ngày theo con lên thành, bà ăn gì cũng bảo nhạt.”

“Bà cụ có yếu không ạ?” Mai Ngọc hỏi.

“Ba tuần nay bà không ăn quá nửa bát cháo.” Ông Quý thở dài. “Quan huyện lo lắm. Ba mươi ngày nữa là lễ mừng thọ bảy mươi của bà. Ngài định mở tiệc. Nhưng bà nói bà không muốn ăn, không muốn nhìn mâm cao cỗ đầy.”

Trọng Nghĩa đã đứng ngay bên cạnh Mai Ngọc từ lúc nào, và cô nghe anh hỏi, giọng thấp: “Hiệu Tống có phần trong tiệc không?”

Ông Quý nhìn anh. “Hiệu Tống cung muối cho nhà bếp phủ huyện mười năm nay, anh Nghĩa. Ông Tống Vĩnh cũng nằm trong danh sách khách được mời.” Giọng ông trầm hơn. “Tôi vẫn giữ bản chép sổ kiểm kho của anh. Quan huyện mới về chưa hiểu cũ. Tôi cần một dịp.”

Hai người đàn ông nhìn nhau một lúc, trao đổi nhau điều gì đó không cần lời. Rồi ông Quý quay sang Mai Ngọc, chắp tay khá trịnh trọng.

“Phủ huyện xin đặt một mâm tiệc cho bà cụ nhà tôi. Không phải mâm cao cỗ đầy, mà là những món bà cụ có thể ăn. Tôi xin cô nương đến nấu.”

Mai Ngọc không đáp ngay. Cô thấy tim đập mạnh, và trong đầu cô vụt qua hình ảnh một bà cụ ở Bắc Ninh ăn hết bát canh rồi ngồi khóc, bảo canh này giống canh mẹ bà nấu. Cô đã quay cảnh ấy và không bao giờ đăng. Cô nhìn bà Thơm, nhìn anh Đức, cuối cùng nhìn Nghĩa. Anh gật đầu, một cái gật rất nhẹ.

“Con xin nhận,” cô nói. “Nhưng con có hai điều kiện, thưa ngài.”

“Cô nương cứ nói.”

“Một, muối, tương, gia vị, con tự mang, con cũng tự kiểm tra bếp. Hai, con muốn được đến trước vài ngày, xem bà cụ ăn thế nào, thích gì, kiêng gì, rồi mới định thực đơn.”

Ông Quý cười, lần đầu, nụ cười thật sự. “Hai điều đó cũng đúng là điều tôi định xin cô nương.”