Chương 21: Tiểu Thư Giả
Mộ Dung phủ bây giờ có tám cổng, và ở cổng nào cũng có lính Đông Cung đứng canh. Suốt hai ngày đầu, Mộc Mộc chỉ được đi lại trong phạm vi sân sau và vườn hoa, hai cô nha hoàn áo hồng đi theo như hai cái bóng được dạy học thuộc lòng. Cha cô bị cấm túc ở dãy nhà phía tây, nơi vừa cháy xong còn khét lẹt, cách một khoảng hành lang có lính chắn. Bữa sáng mỗi ngày đều có một đĩa dưa muối do bếp mang tới, và dưới đĩa là mẩu giấy nhỏ chữ run run: Cha ở đây.
Cô không trả lời. Cô giữ từng mẩu giấy như giữ những tờ đầu tiên của một bản thảo hy vọng.
Còn Sương Nhi thì được phép trở về hầu hạ, vì Thái Hậu đã có chỉ rằng không được tước bỏ người thân cận. Cô bé quay về với đôi mắt sưng húp, nắm chặt tay áo cô ngay trước mặt hai cô nha hoàn, và thì thầm hai chữ: xong rồi.
Cái xong đó là con mèo gầy đã tới tai Lão Mạc.
Chiều ngày thứ hai mươi ba, Mộc Mộc ngồi chép kinh dưới giàn thiên lý trong vườn. Sương Nhi quỳ bên cạnh mài mực. Hồng Diệp đứng cách ba bước, tay bưng khay trà, vẻ mặt vô hại như bình hoa. Mộc Mộc hạ giọng, vừa đủ cho một người đứng ba bước nghe được nếu người ấy cố gắng.
“Đêm mai, canh ba.” Cô đẩy phong thư dán kín về phía Sương Nhi. “Em đem cái này ra miếu Thổ Địa ngoài cửa Nam, đưa cho người của Thế Tử. Đừng đi cổng chính. Trèo qua bờ rào cây mận.”
“Nô tỳ sợ lắm tiểu thư…”
“Sợ cũng phải đi. Cả nhà ta còn trông vào em.”
Sương Nhi gật đầu run rẩy, nhận phong thư cất vào ngực áo. Trong phong thư là hai tờ giấy trắng. Mộc Mộc không hề nhìn sang phía Hồng Diệp, nhưng cô nghe thấy tiếng khay trà sứ khẽ chạm nhau, nhẹ hơn mọi lần.
“Biên tập viên luôn dạy tác giả một điều.” Cô nói với chính mình khi chỉ còn một mình trong phòng. “Muốn đưa thông tin sai thì phải đưa thật chi tiết. Và phải đưa cho đúng người nghe lén.”
Đêm hôm sau, canh hai, Sương Nhi mặc áo ngủ lụa của cô, kéo màn giường xuống, thắp đèn mờ ở bàn trang điểm. Từ cửa sổ nhìn vào chỉ thấy một dáng người ngồi quay lưng, tóc xõa, đầu hơi cúi như đang chép kinh.
“Em giữ thế này đến gần sáng.” Mộc Mộc chỉnh lại lọn tóc giả cho cô bé. “Nếu Lục Bình hay Hồng Diệp hỏi, nói ta đang cầu nguyện, đừng làm phiền. Lạnh thì đắp thêm chăn.”
“Tiểu thư… về sớm nhé.”
“Ta sẽ về trước khi gà gáy.”
Cửa sau nhà bếp hôm ấy chỉ còn hai gã lính canh. Đáng lẽ phải bốn. Đúng như dự tính, nửa đội đã lục tục kéo nhau ra cổng Nam, theo mùi mồi nhử vừa thả. Mộc Mộc, trong bộ nam phục đen, trườn qua bờ rào cây mận đến sát bức tường đá phía sau vườn, ngước nhìn lên.
Tường cao hơn hai người. Cô quên mất mình là một biên tập viên chưa bao giờ trèo qua thứ gì cao hơn cái ghế trong thư viện.
Một bàn tay thò xuống từ đầu tường.
“Nắm lấy.”
Cô nắm. Huyền Thiệu kéo cô lên bằng một tay, tay kia còn quấn băng vai, kéo mạnh đến nỗi cô lộn nhào qua đầu tường, may mà anh đỡ kịp. Hai người lăn xuống ngõ sau, nằm sát nhau trong bóng mái hiên thấp. Anh thở ra, hơi nóng phả vào tóc cô.
“Vết thương anh sao rồi?”
“Cô vừa kéo toạc nó.” Giọng anh đều đều. “Nhưng ta sống được.”
“Xin lỗi.”
“Không cần. Ta đang nghĩ cô nhẹ hơn ta tưởng.”
“Đừng có khen mà làm tôi mất tập trung.”
Họ chạy qua những con ngõ chằng chịt của khu phố Tây, nơi các hiệu sách, hiệu in, hiệu bồi tranh nằm san sát. Mùi giấy mới, mùi mực tàu, mùi hồ nếp hòa vào nhau thành một thứ hương quen thuộc đến mức cô thấy ngực hơi nhói. Ở xứ cũ, mùi này nằm ở tầng ba của tòa soạn, nơi cô từng ngồi qua mười đêm liền với tách cà phê nguội.
Văn Uyên Các hiện ra ở cuối phố: hai tầng, mái ngói đen, tấm biển gỗ khắc bốn chữ vàng đã bạc màu. Cửa trước đóng im ỉm. Ngay đối diện, dưới mái hiên một gánh mì, có một người đàn ông ngồi cắn hạt dưa, trước mặt là nồi nước sôi lục bục nhưng chẳng có bát nào, chẳng có khách nào.
“Từ hôm lá thư tới tay cô, hắn ngồi đó.” Huyền Thiệu thì thầm, kéo cô khuất vào bóng một cột đèn. “Mì không bán ra. Ta cho người xem ba đêm rồi.”
“Bảo vệ hay canh chừng?”
“Cả hai.” Anh ngập ngừng. “Đàm Nhất Bút không xuất hiện từ sáu hôm nay. Người trong phố bảo ông ta đi dưỡng bệnh. Nhưng ông ta chưa bao giờ rời hiệu quá một đêm.”
Họ vòng ra lối sau, một con hẻm hẹp chỉ vừa một người, hai bên là tường gạch ám khói. Cánh cửa gỗ nhỏ ở cuối hẻm hé mở, khe sáng vàng nhạt lọt ra.
Huyền Thiệu đưa tay đẩy. Cửa mở vào gian xưởng tối đen, mùi hồ nếp và bụi giấy. Anh vừa bước qua ngưỡng một bước.
Vút.
Một vật tròn dài, nặng, từ trong bóng tối quật xuống đầu anh. Huyền Thiệu né kịp trong gang tấc, nhưng vật đó vẫn sượt qua tai anh, gõ rầm vào khung cửa. Một giọng non nớt vang lên, hét tới lạc cả hơi:
“Đồ trộm! Ông chủ tôi không có ở nhà! Cút ra khỏi đây!”
Mộc Mộc nhìn xuống cây cán bột lăn lông lốc dưới chân. Rồi nhìn lên.
Trong ánh đèn dầu leo lét, một đứa trẻ chừng mười một tuổi, gầy như que củi, mặt lem mực, hai tay giơ cao một cây cán bột khác, đang run bắn lên như lá. Huyền Thiệu, người từng đánh bại mười gã sát thủ trong một đêm, đứng yên nhìn đứa trẻ, mặt không biểu lộ gì.
“Ta nghĩ,” anh nói rất chậm, “cô nên đi trước.”