Chương 20: Chiều Không Có Tiếng Xe Đạp
Năm giờ rưỡi chiều thứ năm, Thanh Thư nghe tiếng hét ngoài cổng xưởng may, một giọng con trai gấp gáp, vỡ ra nửa chừng. Cô bước ra thì thấy một thằng nhóc mặc áo học trò dính bùn đến đầu gối, hai tay chống vào cột cổng, thở như sắp ngất. Nó là thằng Hưng, người mà Tuấn đã đấm trong sân trường mấy tháng trước.
“Chị Thư… anh Tuấn…” Nó nuốt nước bọt. “Em thấy hai ông đàn ông lôi anh ấy xuống xuồng máy ở bến. Anh ấy đá, họ bịt miệng. Em chạy bộ tới đây.”
Thế giới quanh cô như chùng xuống, các âm thanh xa dần. Cô đã chạy tới bến đò mà không biết mình bỏ lại cuốn sổ cái, bỏ lại chiếc nón, bỏ lại cả bà Hai Hạnh gọi theo phía sau. Bà già chèo đò đứng giữa bến, tay giữ chặt sào, mặt thất thần.
“Hai đứa, mặt lạ.” Bà nói dồn dập. “Xuồng máy chạy về phía nhà máy xay cũ. Tui muốn la mà họ có mã tấu.”
Trên cột gỗ cạnh ghế đợi đò, ai đó vừa đóng một mảnh giấy vỡ vụn bằng cái đinh gỉ. Nét chữ in hoa, thẳng như dao rạch. “SỔ BÌA XANH ĐỔI THẰNG NHỎ. NƯỚC LỚN CHIỀU MAI, BẾN NHÀ MÁY XAY CŨ. MỘT MÌNH MANG TỚI. BÁO CÔNG AN THÌ KHỎI THẤY MẶT NÓ.”
Cô xé tờ giấy xuống, bàn tay run không điều khiển nổi.
Về tới nhà, bà Bảy đã đứng giữa sân từ lúc nào. Thấy con gái chạy vào, mặt trắng bệch, bà hiểu ra tất cả. Bà không khóc. Bà chỉ lặng lẽ khuỵu xuống ngay giữa sân, như một cây chuối bị chặt ngang thân, và ông Lâm vội đỡ lấy vợ, hai tay bà bấu vào áo ông đến nỗi bật cả chỉ.
“Đưa cho chúng nó.” Ông Lâm nói, giọng vỡ ra từng mảnh. “Cái sổ, đưa hết. Ba đổi, ba chịu tội, ba chịu hết.”
“Ba.” Thanh Thư quỳ xuống trước mặt ông. “Con hiểu. Nhưng nghe con. Họ nhắm vào cuốn sổ vì đó là thứ duy nhất làm ông Trần sợ. Đưa rồi, họ đốt nó. Rồi họ vẫn có Tuấn trong tay, và còn có cả mình.” Cô nuốt nước bọt, nghe vị mặn trong cổ. “Chiều mai con phải đi. Nhưng không mang cuốn sổ thật.”
Bà Bảy ngẩng lên. “Con tính làm sao?”
“Làm một cuốn giả.” Thanh Thư nói chậm rãi. “Ba viết.”
Ông Lâm im lặng. Một nụ cười đau đớn kéo lệch khóe miệng ông, như người ta cười với chính mình sau thảm họa. “Ba viết giả một lần nữa.” Ông thì thào. “Lần này giả cho đúng chỗ.”
Cô chạy sang tiệm lão Lưu. Lão đang ngồi sau quầy, tay vẫn cầm cái tua vít chưa hạ xuống. Chưa cần nghe hết chuyện, lão kéo ngăn kéo dưới cùng, lôi ra một xấp vở học trò bìa xanh chưa dùng.
“Bìa giống,” lão nói khản đặc. “Lão có thừa. Còn nét mực, để ổng viết bằng đúng cây bút bi hồi đó, mực đã phai.”
Đạt có mặt chỉ sau mười phút, dường như hắn luôn biết mọi chuyện. Cùng đến là Thẩm Kình, tóc rối, áo sơ mi nhăn, không còn dáng vẻ ung dung của người đứng trên bàn cờ. Hắn nghe Thanh Thư thuật lại mà không hề ngắt lời, hai bàn tay nắm chặt thành nắm đấm đặt trên mặt bàn.
“Tôi có sáu người.” Hắn nói khi cô nói xong. “Cho tôi đặt họ quanh bến.”
“Không.” Thanh Thư đáp ngay. “Tư Sẹo sống bằng nghề nhìn thấy người lạ. Chỉ cần một bóng dáng nào khác ngoài tôi, chúng thả xuồng chạy và không ai biết thằng nhỏ ở đâu.” Cô nhìn thẳng vào mắt hắn. “Ông nói sẽ hỏi trước. Tôi trả lời trước đây. Ông giúp tôi bằng cách khác: tìm cách chặn đường chạy trốn ở hai đầu rạch, khi tôi ra hiệu. Còn lại để tôi.”
Thẩm Kình nhìn cô rất lâu. Cuối cùng hắn gật đầu.
Ông Lâm ngồi viết cho tới khuya. Dưới ngọn đèn dầu, bàn tay ông chép lại chính những dòng chữ mười tám năm trước, thêm vài đoạn nhập nhằng, đổi vài con số cho vừa với mục đích. Lão Lưu dùng nước trà đặc thấm lên từng trang giấy cho ngả vàng, rồi hong trên lò than. Căn tiệm nồng mùi giấy cháy và khói thuốc, nhưng không ai mở cửa sổ.
Gần nửa đêm, Thanh Thư về nhà một mình. Mẹ cô đã được hàng xóm đưa vào giường, ba cô ở lại với lão Lưu. Cô ngồi trên bậc thềm, nhìn khoảng sân tối om, nhớ lại tiếng xe đạp thằng Tuấn mỗi chiều, bánh xe nghiến sỏi lọc xọc, tiếng chuông leng keng nó tự chế bằng cái nắp bình nước.
Chiều nay, sân nhà không có tiếng chuông ấy.
Có tiếng cành khô gãy rất khẽ ngoài hàng rào dâm bụt.
Cô đứng bật dậy. Trong tay cô là cây gậy tre thằng Tuấn để lại, đầu gậy nhọn hoắt. Bóng người từ từ bước ra khỏi chỗ tối, chậm, hai tay giơ lên cao để cô nhìn rõ.
Hữu Phong.
Anh ta mặc áo sơ mi nhàu nát, khóe miệng bầm tím, đôi mắt thâm quầng đỏ ngầu, và trên gò má có một vết xước đã đóng vảy. Anh ta không bước vào sân, đứng ngoài ranh giới cái cổng tre, như người biết mình không được mời.
“Tôi biết Tuấn đang ở đâu,” anh ta nói.