ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 19: Đồng Muối Buổi Bình Minh

Xe bò đi hết ngày thứ nhất, họ đổi sang một chiếc ghe nan của bác Ba Đò, người coi bến ngang ở làng bên, quen cụ Khải từ thuở thiếu niên. Ông lái ghe xuôi theo nhánh sông hẹp, hai bên bờ lau sậy cao quá đầu, chim bói cá lao xuống mặt nước như mũi tên bạc. Suốt hai ngày hai đêm, Mai Ngọc ngủ co trên mấy bao tải rỗng, tỉnh dậy với mùi bùn, mùi khói bếp chài, mùi cá nướng bác Ba nhóm trên mũi ghe.

Sáng ngày thứ tư, gió đổi hướng. Mai Ngọc ngửi thấy một mùi lạ, mặn và sạch, lẫn vào hơi sương.

“Biển,” anh Đức nói, mắt nheo lại. Anh chưa bao giờ ra biển, giọng hơi run.

Ghe rẽ qua một khúc cua, lau sậy dạt hai bên, và đồng muối hiện ra.

Mai Ngọc chưa từng thấy cảnh nào như vậy. Từng ô ruộng vuông vức, mỗi ô phẳng như một tấm gương, xếp thành bậc từ sát bờ đê ra tận chân trời. Nước trong các ô lặng im, phản chiếu bầu trời đỏ cam của buổi bình minh. Ở những ô cuối cùng, muối đã kết, trắng lấp lánh, từng đống nhỏ như núi tuyết bé xíu. Những người phụ nữ mặc quần xắn ngang gối, đội nón rộng vành, cầm cào gỗ dài lướt trên mặt ruộng, tiếng cào lạo xạo vang đều, đều như nhịp thở.

“Đẹp thật,” cô nói, mà tự thấy câu ấy chẳng đủ.

Trọng Nghĩa đứng cạnh, đội nón nghiêng. Gió biển thổi tung vạt áo anh. “Nghe nói mỗi hạt muối trắng thế này, người ta phải phơi nắng hết bốn ngày.”

Họ cập ghe vào một cái bến gỗ cũ. Một người đàn ông chừng bốn mươi, da sạm cháy như gốc tre, đang vác cào đi dọc bờ ruộng. Thấy ghe, ông dừng lại, nheo mắt nhìn người đứng ở mũi ghe, rồi ông buông cào, chạy ào lại.

“Cụ Khải gửi các vị tới phải không?” ông nói, thở hổn hển, giọng mộc. “Con là Hợi. Bố vợ con nhờ thuyền cá đưa tin trước, bảo có người tới mua muối.”

Căn nhà của Hợi là một dãy lán lá thấp dựng sát đê, bên trong xếp hàng chục bao muối đay trên giàn tre kê cao, dưới đất là rãnh cạn. Chị vợ ông, con gái cụ Khải, bưng ra một nồi cháo cá. Mai Ngọc ăn mấy bát, mặn ngọt sạch, ăn đến đâu thấy tỉnh đến đó.

“Muối kia chưa bán,” Hợi nói, chỉ giàn tre. “Phải để ráo chừng ba tháng. Nước chát chảy hết xuống rãnh, hạt muối mới trắng sạch. Bố vợ con dạy từ nhỏ. Nhưng…” Ông ngập ngừng.

“Nhưng người thu mua không cho để?” Nghĩa hỏi nhẹ.

Hợi nhìn anh, mặt xẹp xuống. “Người của hiệu họ Tống tới mua mỗi tháng. Họ trả nửa giá, phải bốc muối ướt ngay trong ngày, không cho ráo. Ai không bán thì họ cho người chặn bến, không cho thuyền nhỏ cập. Nhiều nhà ở đây đành chịu, muối ướt thì họ còn trộn thêm cát cho nặng, rồi đổ lớp muối khô lên mặt.”

Mai Ngọc cầm chiếc đũa tre, gõ nhẹ vào mép bát. Mọi mảnh ghép trong đầu cô khớp lại với nhau, từng cái một. Muối không dở vì biển. Muối dở vì có người mua nó ướt, bán nó nặng, và cho cả một thành ăn thứ nước chát ấy.

“Chú cho cháu xem muối ráo,” cô nói.

Hợi lúng túng dẫn cô tới giàn tre. Cô rạch một bao, bốc một nắm, rồi cô thọc tay xuống tận đáy và bốc nắm nữa. Hạt to, ráo khô, đều từ mặt tới đáy. Cô lấy bộ dụng cụ ra: bát nước, chảo, cân đòn. Hợi đứng nhìn không chớp, trong khi cô làm đủ ba phép thử, đúng như bố vợ ông dạy.

“Ba phép này,” ông run giọng, “là phép của bố vợ con.”

“Cụ Khải dạy cháu mới hôm nọ đấy chú.” Mai Ngọc cười. “Muối của chú, nước trong, vị sạch, hao mười lạng chỉ nửa lạng. Chú ạ, cháu muốn mua ba chục bao muối này, bao nào cũng như bao này, từ mặt tới đáy.”

Hợi không trả lời ngay. Ông xoa hai bàn tay thô ráp vào nhau, như xoa một ý nghĩ chưa dám nghĩ. “Giá bao nhiêu hả cô?”

“Mười lăm đồng một bao hai mươi cân, trả ngay. Hiệu họ Tống trả chú mấy đồng?”

“Tám đồng. Mà là muối ướt.”

Cả lán lặng đi. Chị vợ Hợi quay mặt đi, đưa tay áo lên mắt. Mười lăm đồng, gần gấp đôi cái giá cả đời Hợi quen nhận, cho thứ muối mà ông vẫn giấu kỹ trong lán vì không dám bán.

“Chú cũng cần biết một điều,” Mai Ngọc nói tiếp. “Cháu không phải người mua một lần. Làng cháu có mười hai nhà đã gửi tiền, sẽ còn nhiều nhà nữa. Mỗi tháng ba chục bao, cháu trả ngay, không nhận muối ướt, không ép bốc gấp, không có tiền ứng, không có dây buộc. Chú làm được không?”

Hợi nhìn vợ. Vợ ông gật mạnh. Ông quay lại, ánh mắt bất ngờ rực lên một thứ cứng cỏi mà trước đó Mai Ngọc chưa thấy ở người đàn ông này.

“Được. Con làm được. Mà…” ông liếc ra phía ngoài đê, giọng thấp hẳn đi, “hiệu họ Tống có người trông bến này. Ban đêm họ hay đi dọc bờ. Cô nương lấy muối xong, nên đi ngay.”

Họ làm việc suốt ngày. Anh Đức và Hợi khuân bao muối xuống ghe, từng bao ráo khô, chắc nịch, ba chục bao xếp thẳng trên ván lót rơm. Nghĩa kiểm từng bao bằng cách xốc lên tay, nghe hạt muối lạo xạo. Mai Ngọc ngồi ở bờ đê ghi sổ, tay vẫn cầm mẩu than, và mắt không rời khỏi hàng ô muối đang lấp lánh dưới nắng.

Một lúc sau, cô nghe tiếng gọi lanh lảnh từ phía bờ đê. Con trai Hợi, một thằng bé chừng mười tuổi, chạy hớt hải xuống, mặt mày tái mét.

“Bố ơi! Có người cưỡi ngựa tới bến lớn, hỏi có ai mua muối ráo không!”

Trọng Nghĩa dừng tay. Mai Ngọc đứng dậy nhìn theo hướng thằng bé chỉ. Xa xa trên con đê, một bóng người ngồi trên lưng ngựa đang quay đầu nhìn về phía lán. Dù cách một khoảng xa, cô vẫn thấy rõ vệt sẹo kéo dài từ thái dương xuống tận cằm của gã.