ĐĐọc Truyện
Thập Niên 80: Vợ Quân Nhân

Chương 15: Tổ May Áo Bông

Chuyện đêm hơi than lan khắp khu tập thể nhanh hơn tiếng còi tàu. Sáng hôm sau, người ta đã bàn tán ngoài giếng rằng cô Linh vợ thượng úy Quân cứu mẹ chồng giữa đêm. Đến tối, đã có thêm hai chi tiết chẳng ai kiểm chứng được: cô vác bà cụ chạy ba tầng gác, và cô đạp cửa bằng một cú đá. Bà Năm, người khởi xướng nửa số chi tiết đó, nhún vai khi Diệu Linh hỏi. “Có phải ý tôi đâu. Thiên hạ nó tự thêm vào.”

Cuối tuần, chị Hạnh, chủ tịch Hội phụ nữ khu, ghé qua phòng cô.

Chị Hạnh là người đàn bà tầm bốn mươi, tóc cắt ngắn, đeo cặp kính gọng đen, giọng nhanh và gọn như đang đọc báo cáo. Đi cùng chị là ông Bảo, cán bộ quản lý khu tập thể, đứng thẳng ngay ngưỡng cửa, tay cầm một cuốn sổ bìa cứng.

“Cô Linh, tôi vào việc luôn,” chị Hạnh nói. “Hậu cần Trung đoàn vừa chuyển cho khu ta ba trăm bộ vải và bông để may áo bông cho bộ đội ở biên giới. Rét đã tới, mà áo thì còn thiếu. Họ giao thợ gia công là các gia đình quân nhân, trả công theo sản phẩm, mười lăm ngày phải xong. Tôi cần một người làm tổ trưởng.”

“Em ạ?” Linh hơi ngạc nhiên.

“Cô vừa có chồng là thương binh, vừa là người may khéo nhất khu này. Tôi hỏi chị Loan, hỏi bà Năm, ai cũng nói cô.” Chị Hạnh nhìn cô qua cặp kính. “Vải bông do ông Bảo quản lý ở kho khu, cấp theo sổ. Cô nhận về, cắt may, nộp thành phẩm. Cô thấy thế nào?”

Linh liếc ông Bảo. Ông ta đang nhìn đâu đó phía cửa sổ, mặt không biểu cảm, nhưng bàn tay cầm sổ siết hơi chặt.

Cô chưa kịp trả lời thì bà Lành, ngồi trong góc phòng từ nãy, lên tiếng: “Con bé mới vừa nhận cái nhà này chưa quen. Giao ba trăm cái áo cho nó, nó chịu sao nổi.”

“Mẹ,” Linh nói, “Con làm được.”

Bà Lành liếc xéo cô. Nhưng nửa tiếng sau, khi chị Hạnh và ông Bảo đã đi, bà tự mình ra mở cái rương tre mang từ quê lên, lôi ra cây kim to, cuộn chỉ gai và một cái dùi.

“Áo bông,” bà lầm bầm. “Thứ này tao làm hơn mày đấy.”

Hóa ra đúng thế. Bà Lành khâu bông thành từng đường chần mũi lùi, nhỏ và chắc, đều như dệt. Bà nhìn đường kim của Linh, lắc đầu, nói “chưa được”, và chỉ cho cô từng mũi. Bất ngờ là cô thấy mình học nhanh, như thể đôi tay này nhớ ra một điều mà đầu óc chưa kịp biết.

Tổ may áo bông được lập chiều thứ Hai ở gian sinh hoạt chung của khu, một căn phòng rộng đã bỏ không, bốn bức tường quét vôi. Tám người đàn bà kéo đến, mang theo ba chiếc máy khâu, gồm cái Singer của chị Loan, một chiếc máy đạp cũ của chị Tâm ở tầng hai và một chiếc máy tay sơn đã tróc. Bà Năm xin làm “ban kiểm tra chất lượng”, ngồi trên chiếc ghế cao với cái kính lão, soi từng đường chỉ.

Đứng trước tám khuôn mặt chờ đợi, Linh hơi bối rối. Cô nhớ ở đời trước, trong một công ty may mặc cô từng đến đưa mẫu thiết kế. Cô đã nhìn thấy hàng chục người ngồi dọc băng chuyền, mỗi người làm một khâu. Cô chưa từng nghĩ có ngày dùng được.

“Chúng ta thử làm khác một chút,” cô nói. “Không ai may trọn một cái áo. Mỗi người làm một khâu.”

Cô trải tờ báo lên bàn, dùng phấn vẽ sơ đồ cắt, xếp các mảnh thân, tay, cổ sao cho khít nhất trên khổ vải, để lại ít vụn nhất. Chị Loan ngồi cắt, hai người đạp máy ráp tay áo, hai người ráp thân, chị Tâm lo cổ, ba người còn lại chần bông. Bà Lành đứng ở cuối cùng kiểm tra đường chần, bà Năm đóng cúc và gấp.

Buổi đầu, họ lúng túng. Có lúc cắt xong mà chưa kịp ráp, có lúc hai người đụng tay nhau. Đến chiều, họ hoàn thành mười bốn chiếc. Bà Năm cầm một cái lên soi trước cửa sổ, cau mày, rồi hết sức miễn cưỡng buông một câu: “Ừ, được.”

Hôm sau, ba mươi mốt chiếc. Hôm sau nữa, bốn mươi.

Chị Hạnh ghé qua vào ngày thứ ba, đứng nhìn một lúc lâu mà không nói gì. Khi cô quay ra, mắt chị sáng rực sau cặp kính. “Cô Linh, cái cách làm này, cô học ở đâu?”

“Em… đọc ở đâu đó,” Linh đáp, và chị Hạnh cười, tin hay không tin cũng không hỏi tiếp.

Giữa tuần, có thư của Quân.

Thư dày đúng ba tờ, chữ cứng, nét hơi dài. Linh mở ra ngay giữa phòng, bà Lành đang ngồi đóng cúc cũng ngẩng lên. Anh kể vết mổ đã sạch, bác sĩ cho xuống giường tập đi bằng nạng. Tùng đang tập viết thư về nhà, mỗi ngày một câu, cố cầm bút bằng bàn tay còn ba ngón. Anh nhờ một người bệnh buồng bên dạy thổi kèn môi và đã thổi được hai nốt không lạc. Anh gửi lời hỏi thăm mẹ, và viết riêng mấy dòng cuối:

“Hôm qua anh nghe lại bài em hát đêm đó. Anh nhớ tới đoạn lên giọng. Anh vẫn chưa trả lời được em là anh thích bài nào, nhưng anh đã biết một điều: anh thích nghe em hát.”

Linh đọc xong, gập thư lại, áp vào ngực trong một giây. Bà Lành giả vờ cúi xuống cái cúc áo. Phía bên kia phòng, ba người đàn bà lập tức quay đi, bắt đầu nói rất to về giá thịt lợn.

Nhưng chiều hôm ấy, khi mọi người đã về, Linh vẫn ở lại một mình trong gian sinh hoạt. Cô kiểm kê bằng thói quen của người từng làm việc ở nơi mà mọi con số đều phải khớp: số áo đã xong, số vải còn, số mảnh vụn. Cô lấy thước mét của thợ may, đo lại những cuộn vải ông Bảo đã giao đợt đầu, đối chiếu với tờ biên nhận.

Cuộn thứ nhất, nhãn ghi năm mươi mét, đo ra bốn mươi tám.

Cuộn thứ hai, nhãn ghi năm mươi, đo ra bốn mươi bốn.

Cô đo lại lần nữa, từ đầu, ngón tay kẹp chặt đầu vải. Không sai. Cô đo cuộn thứ ba, cuộn thứ tư. Cộng lại, thiếu mười bốn mét.

Cô ngồi xuống, nhìn mấy cái lõi cuộn vải. Mép cuộn có những vết cắt thẳng, gọn, vừa mới. Không ai cắt như thế trong nhà máy dệt.

Có người đã cắt bớt vải trước khi giao cho cô. Và tờ biên nhận trên bàn cô, với chữ ký tròn trịa của ông Bảo, vẫn ghi đủ năm mươi mét một cuộn. Ngay dưới đó là chữ ký của chính cô, ký nhận đủ, trong buổi sáng ông ta giục giã vì sợ lỡ chuyến xe của hậu cần.