ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 18: Chuyến Xe Muối

Ba bao muối của cụ Khải được khiêng sang chái ủ trong chiều muộn. Cụ không cho ai đụng vào trước. Cụ rạch từng bao, thọc cánh tay già đến tận đáy, bốc ra, bóp, ngửi, cho vào bát nước, rồi gật đầu. Muối hạt to, óng như đường phèn vụn, ráo khô, chỉ có một lớp bụi trắng mịn bám trên tay. Khi hòa vào nước, nước vẫn trong veo.

“Thế này mới gọi là muối,” cụ nói. “Nặng thế nào thì nó nặng thế ấy, không đội lốt nước.”

Sáng hôm sau, cả nhà bà Thơm bắt đầu làm lại từ đầu. Mốc cũ bị đổ ra rãnh, hũ sành rửa lại ba lần nước sôi, rơm mới được trải. Nhưng một mẻ tương hai mươi lăm ngày, sáu mươi hũ, chừng ấy việc không nhà nào kham nổi bốn người.

Mai Ngọc đứng giữa sân, đếm nhẩm: nấu xôi, rang đậu, rải mốc, đảo mẹt, rửa hũ, phơi nắng, canh trời. Cô bước sang hàng rào nhà bà Lý.

“Bà Lý, cháu cần mấy người làm việc nhà cháu từ nay đến cuối tháng. Công mỗi ngày một đồng, cơm trưa nhà cháu nấu.”

Bà Lý đang cắn hạt dưa, nghe vậy suýt sặc. “Một đồng? Đi cấy thuê cả ngày còn không được ngần ấy.”

“Cháu trả. Với điều kiện làm cho sạch, làm đúng lời cháu dặn, không bớt công đoạn nào.”

“Hai đồng thì tôi làm,” bà Lý nói, mắt sáng lên như người thử vận.

“Bà làm hai việc: ủ mốc và nếm thử. Hai đồng.”

Bà Lý cười híp mắt, hất hàm. “Thế thì chị Sáu, con Tám, bà Hậu, tôi rủ hết.”

Đến chiều, trong sân nhà bà Thơm đã có sáu người phụ nữ, mỗi người ngồi một mẹt, tay thoăn thoắt tách hạt đậu. Chị Sáu chồng mất sớm, nuôi hai đứa nhỏ, nhìn đồng xu đầu tiên của ngày công mà cười đến rơi nước mắt. Bà Thơm lần đầu tiên đứng giữa đám người ấy mà không còn là người đứng ở mép bếp, bà đang chỉ cho chị Sáu cách xới xôi thế nào cho tơi.

Chiều muộn, khi mốc đã được ủ yên trong chái và mọi người ra về, Mai Ngọc ngồi cùng cụ Khải và Trọng Nghĩa trên hiên. Cụ Khải kê cái nón mê lên đầu gối, vẽ bằng ngón tay lên nền đất.

“Đây là sông lớn, đây là thành. Tống Vĩnh giữ bến chợ ngay cổng thành nên muối từ dưới xuôi lên đều phải qua tay hắn. Nhưng ngày xưa dân muối còn có một đường cũ. Đi theo nhánh sông nhỏ này, qua làng bên, lên đến tận bến đò ngang gần Trúc Khê. Thuyền nhỏ, không qua cổng thành, hắn không canh được hết.”

“Dưới xuôi cách đây bao xa?” Mai Ngọc hỏi.

“Đi xe bò ra bến đò là một ngày. Thuyền xuôi nhánh sông hai ngày. Đến đồng muối là sáng ngày thứ tư.” Cụ ngẩng lên. “Thằng Hợi, rể tôi, làm muối ở đó. Nó là người thật thà, không biết làm ăn. Mỗi năm nó phơi được cả trăm bao, mà bán cho hắn chỉ được nửa giá. Hắn chặn đường, nó không còn cách khác.”

“Cháu muốn mua trực tiếp.”

“Bao nhiêu?”

Mai Ngọc thoáng nghĩ rồi đáp: “Ba chục bao, cụ ạ. Nhưng không phải để một mình cháu dùng.”

Cụ Khải nhướng mày. Trọng Nghĩa ngồi im, tay xoay mẩu tre, nhưng cô thấy mắt anh dừng lại trên cô.

“Cháu tính thế này,” cô nói chậm rãi. “Cả làng đều đang mua muối ở tiệm ông Bảo, trả bốn đồng cho cái thứ mà hai đồng còn chưa đáng. Nếu cháu đi mua ba chục bao, giá gốc rẻ hơn, cháu bán lại cho làng theo giá vốn cộng chi phí đi lại. Nhà nào cũng có muối sạch. Hắn không thể nâng giá nữa, vì làng đã không cần hắn.”

“Hắn sẽ không để yên,” Nghĩa nói.

“Nên mới phải đi đường cũ của dân muối.”

Cụ Khải hít một hơi dài, rồi bật cười, tiếng cười ráp như nan tre. “Thằng rể tôi mà biết có người mua ba chục bao trả tiền ngay, chắc nó lạy cô nương.”

Chuẩn bị lên đường mất nửa ngày. Tiếng đồn lan nhanh hơn bà Lý chạy: chưa đến tối đã có mười hai nhà mang tiền sang gửi. Người một xâu, người nửa xâu, nhà ông lý Tám gửi cả hai xâu. Chị Sáu biết chữ, ngồi ghi từng nhà lên tấm ván bằng than, rồi đọc lại cho từng người nghe để không ai lo bị bớt. Anh Đức sắp xe bò, mượn thêm một con bò từ nhà ông lý Tám. Anh Bình ở lại trông nhà, trông chái ủ, trông bà Thơm. Bà Thơm không nói nhiều, chỉ vào bếp từ sớm, và khi Mai Ngọc bước vào, bà đang gói cơm nắm vào lá chuối. Bên trong từng nắm là thịt ba chỉ rim tương, cô vừa dạy cho bà làm tối qua.

“Cơm nắm thịt tương,” bà nói. “Ngày nắng không hỏng. Con đi đường dài, nhớ ăn, đừng nhịn.”

Mai Ngọc ôm lấy mẹ, mùi khói bếp bám trên áo bà. Cô đã từng ôm rất nhiều người, nhưng không nhớ có lần nào cô thấy lưng người nào nhỏ và vững như thế.

“Con đi mấy ngày rồi về,” cô nói. “Mẹ trông nhà.”

Bà Thơm vỗ lưng cô. Rồi bà đẩy cô ra, mắt đỏ, mặt cố làm ra nghiêm. “Đi cẩn thận. Có thằng Nghĩa đi cùng thì mẹ yên bụng hơn.”

Cô liếc sang. Trọng Nghĩa đứng ngoài hiên, chiếc nón đội thấp, quang gánh trên vai, không hề giả vờ như không nghe. Anh chỉ khẽ gật đầu chào bà, tai hơi đỏ.

Canh tư hôm sau, xe bò lọc cọc lăn khỏi cổng làng trước khi gà gáy. Trăng cuối tháng còn treo trên rặng tre. Mai Ngọc ngồi ở đuôi xe, tựa vào mấy bao tải rỗng, bên cạnh cái hộp gỗ đựng bộ dụng cụ thử muối và một túi nhỏ đựng tiền của nhà mình và tiền mười hai nhà trong làng gửi. Cô nhìn lại. Qua rặng tre, đèn nhà bà Thơm vẫn sáng, chấm vàng nhỏ xíu giữa đêm.

Anh Đức dắt bò đi trước. Trọng Nghĩa đi cạnh xe, tay đặt hờ lên thanh gỗ, bước chân đều.

“Anh có đi đường này bao giờ không?” cô hỏi khẽ.

“Hồi lính, đi một lần, khác hướng.” Anh không quay đầu. “Có tôi đi cùng, cô ngủ một lát đi.”

“Em không buồn ngủ.”

“Vậy nghe tiếng bò lọc cọc cho đỡ sợ.” Khóe miệng anh cong lên rất nhẹ trong bóng tối. “Bò nhà ông lý thuộc đường hơn tôi.”