Chương 17: Lời Xin Lỗi Ở Nhã Hương Lâu
Bà Hạnh tiếp họ không ở sảnh lớn mà trong gian phòng nhỏ sau quầy tính tiền, nơi sổ sách chất cao đến trần. Bà ngồi sau chiếc bàn gỗ lim, bàn tính để sẵn bên tay, ánh mắt đã đọc được từ cái dáng đi của hai anh em rằng không có tin gì tốt.
Mai Ngọc không chờ bà mời ngồi. Cô đặt cái giỏ xuống nền, chắp tay, nói thẳng, từng chữ rõ ràng:
“Tháng này nhà cháu không giao đủ. Mười hũ dưa là dùng được, sáu mươi hũ tương thì hỏng, nước chấm gừng mật cháu còn kịp làm. Lỗi do cháu mua muối của hiệu họ Tống mà thử không kỹ. Cháu đến báo trước thay vì đợi bà cho người hỏi.”
Anh Đức đứng cạnh, dáng cứng như cột đình. Bà Hạnh không nói gì một lúc lâu. Hạt bàn tính trên tay bà không nhúc nhích.
“Hỏng bao nhiêu?”
“Ba mươi hũ dưa, sáu mươi hũ tương đang ủ.”
“Cô nương đã xin lỗi rồi.” Bà Hạnh nhìn thẳng cô. “Giờ cô nương định làm gì?”
“Cháu làm lại, bằng muối sạch. Nhưng trước hết, cháu xin bà cho cháu được chứng minh một việc. Chuyện không chỉ của cháu.”
Mai Ngọc lấy từ giỏ ra cái chảo gang, cây cân đòn bằng tre, ba cái bát sành, tấm vải lọc, và một lọ nhỏ đựng nắm muối xám lấy từ đáy bao. Bà Hạnh nhướng mày, nhưng bà đứng dậy, dẫn họ qua một hành lang dài, đến thẳng gian bếp, nơi thầy Phan đang trông nồi nước dùng, không ngẩng đầu.
“Thầy Phan,” bà gọi. “Cô nương này nói có thứ muốn thử với muối của lầu.”
Ông Phan lau tay vào tạp dề, nhìn Mai Ngọc bằng ánh mắt đã khác hẳn hôm nọ, ít dè chừng hơn, nhiều tò mò hơn. Ông không hỏi, chỉ bước lại kệ cuối bếp, rạch một bao muối đay còn nguyên dấu cái cân đỏ, bốc một nắm vào bát.
“Lấy ở mặt hay đáy?” Mai Ngọc hỏi.
Ông Phan khựng lại. “Mặt.”
“Thầy lấy thêm một nắm ở đáy, cả hai bát.”
Ông nhìn cô, rồi quay lại, cúi người, thọc cánh tay gân guốc vào tận đáy bao, bốc thêm một nắm. Mai Ngọc làm lại đúng ba phép của cụ Khải trước mắt mọi người. Nước hòa muối mặt bao: trong. Nước hòa muối đáy bao: đục xám, cặn chìm. Cô nhúng đũa, đưa cho ông Phan nếm hai bát. Ông nếm bát thứ nhất, im lặng. Nếm bát thứ hai, mặt ông tối sầm lại.
“Chát,” ông nói, giọng như cuộn chặt trong cổ họng.
Cô cân hai nắm trước mặt ông. Mười lạng muối mặt bao, hơ mười lăm phút trên chảo gang, còn chín lạng rưỡi. Mười lạng muối đáy bao còn bảy lạng, nghĩa là ba phần mười là nước. Tấm vải lọc giữ lại một nắm cát xám.
Ông Phan nhìn nắm cát rất lâu. Bàn tay đầy sẹo bỏng của ông nắm chặt cái bát đến nỗi cái bát sắp nứt.
“Một năm,” ông nói. “Một năm tôi tưởng lưỡi mình già. Mỗi ngày tôi cho thêm muối vào canh vì sợ khách ăn nhạt. Một năm.”
Bà Hạnh đứng im giữa bếp, chiếc nhẫn bạc mòn nhẵn trên tay bà xoay chậm một vòng. Mai Ngọc thấy bà đang tính. Bà tính mỗi tháng lầu mua bao nhiêu bao, mỗi bao có bao nhiêu nước, bao nhiêu cát, bao nhiêu đồng đã đổ đi từ cái ngày ký hợp đồng.
“Hợp đồng muối của lầu với hiệu họ Tống còn ba tháng,” bà nói cuối cùng, giọng thấp. “Hủy giữa chừng thì lầu phải đền gấp ba. Mà chủ của tôi, ông Phùng, quen biết ông Tống Vĩnh từ lâu. Ông ấy không phải người xấu, chỉ là người dễ tin.”
“Bà không cần hủy,” Mai Ngọc nói. “Bà chỉ cần biết.”
“Biết.” Bà Hạnh cười một tiếng khô. “Biết thì ngủ không yên.” Bà quay lại, nhìn cô. “Cô nương mang bằng chứng đến cho tôi, tại sao?”
“Vì hàng của cháu bán ở bếp lầu. Muối dở thì tương cháu dở, mà khách ăn không phân biệt được lỗi của ai. Cháu muốn bếp này nấu ngon, thế thôi.” Mai Ngọc ngẩng cằm, nhưng giọng vẫn nhẹ. “Với lại, nếu cháu giấu, một ngày nào đó chính bà sẽ nghe ra từ một người khác.”
Thầy Phan hừ một tiếng ngắn, rất giống một tiếng cười. Bà Hạnh nhìn hai người, rồi đi thẳng về phía bàn tính treo tường, gảy những hạt gỗ lên xuống thật nhanh.
“Tôi nói thế này,” bà nói, lưng vẫn quay lại. “Tháng này lầu vẫn lấy bốn mươi hũ nước chấm và dưa, tôi không lấy tương vì tương cần thời gian. Hạn một tháng, cô nương giao sáu mươi hũ tương làm bằng muối sạch. Chậm hơn dự kiến, nhưng tôi chờ. Đổi lại, cô nương giữ kín chuyện này, ít nhất đến khi tôi tìm được muối khác cho lầu. Đừng đối đầu với lão ngay lúc này. Trong thành lão có người.”
Mai Ngọc cúi đầu. “Cháu nghe bà. Mẻ tới cháu đã mượn được muối sạch của một cụ trong làng. Nhưng muối cho những tháng sau, cháu phải lấy ở đâu?”
Bà Hạnh quay lại, ánh mắt sắc lạnh hơn. “Đó là chuyện khó nhất. Lão Tống giữ hầu hết xe chở muối vào thành, giữ cả các bến sông. Muối ở dưới xuôi nhiều vô kể, nhưng những chủ ruộng muối nhỏ ở đó chưa bao giờ bán thẳng được cho người trong thành, vì lão trả giá thấp, hoặc chặn đường. Cô nương muốn muối sạch, phải đi đường vòng.”
“Đường vòng thì cháu có người dẫn,” Mai Ngọc nói, nghĩ đến cụ Khải và người rể của cụ. “Cháu chỉ cần chút thời gian.”
Thầy Phan chen vào. Ông đã đặt cái bát xuống, giọng cộc lốc. “Hai mươi lăm ngày. Tôi chờ tương của cô hai mươi lăm ngày, hơn nữa là tôi chuyển sang nấu canh bằng nước lã.”
Mai Ngọc bật cười, tiếng cười bật ra thật bất ngờ giữa bếp lạnh. Anh Đức bên cạnh, từ nãy giờ không hé răng, lẩm bẩm: “Mày dám nói thật. Anh không dám.”
“Giấu thì chết chắc hơn,” cô đáp khẽ.
Lúc ra cổng sau, bà Hạnh tiễn cô một đoạn. Bà không nói thêm gì, chỉ nhét vào tay cô một gói giấy dầu nhỏ. Mở ra, bên trong là mấy chiếc bánh đậu xanh còn ấm.
“Đường xa,” bà nói. “Ăn lót dạ. Lần đầu tôi thấy một người bước vào phòng sổ sách của tôi mà đến báo tin dữ trước khi bị hỏi.”