ĐĐọc Truyện
Xuyên Về Làm Nông, Ta Giàu Rồi!

Chương 14: Hũ Tương Lạ

Phiên chợ ngày mùng chín đông hơn mọi lần, vì lúa mới nhập kho, tay ai cũng rủng rỉnh. Mai Ngọc trải chiếu dưới gốc cây cổ thụ như mọi khi. Hôm nay cô chỉ bán lẻ mười hũ tương mẻ cũ, để dành phần còn lại cho đơn hàng của Nhã Hương lâu. Út Mận ngồi cạnh cầm cái thìa tre, hễ có ai dừng bước là mời nếm, giọng lanh lảnh như chim sẻ.

Cô vừa đong xong cho bà Lý một hũ nhỏ thì phía đầu chợ có tiếng người la. Một gã đàn ông gầy, quần áo vá chằng chịt, ôm một đứa bé chừng bảy tuổi mặt mày tái mét, lảo đảo chen qua đám đông. Tay kia gã xách một hũ sành có bịt vải, đóng sáp ong.

“Hũ tương nhà con bà Thơm!” Gã gào, giọng khàn như đã gào từ nãy. “Con tôi ăn tương này mà nôn thốc nôn tháo, sắp chết rồi đây! Mọi người ơi!”

Đám đông tản ra nhường đường rồi lại siết vào, ồn ào như tổ ong vỡ. Mấy bà hàng rau lắc đầu, có người lùi xa khỏi chiếu của Mai Ngọc. Bà Tư ngồi sạp tương bên kia, môi mím lại, mắt thoáng lóe lên điều gì đó vừa như lo vừa như khoái chí.

Mai Ngọc đứng dậy, không chạy ra cãi. Cô chen đến, quỳ xuống bên đứa trẻ trước khi gã đàn ông kịp nói tiếp.

“Cháu đau chỗ nào? Đau bụng hay đau đầu?”

Đứa bé rên khẽ, tay ôm bụng. Cô đặt tay lên trán nó, mát, không sốt. Mắt nó đảo nhanh, thỉnh thoảng liếc về phía bố, không có vẻ gì của kẻ ngộ độc nặng.

“Út Mận, chạy về nhà lấy bình nước gừng ấm trên bếp. Nhờ bà Lý.” Cô nhìn gã đàn ông. “Anh cho tôi xem hũ tương.”

“Cô định phá chứng cứ đấy hả?”

“Tôi xem trước mặt mọi người, anh cầm tay mà đưa.”

Ông lý Tám vừa tới nơi, thở hồng hộc. Ông gật đầu. Gã miễn cưỡng đưa hũ ra. Mai Ngọc nhận lấy, xoay nhẹ dưới ánh nắng. Nắp vải buộc dây, sáp ong đóng nhánh trúc ba lá, nhìn qua hệt như hũ nhà cô. Hệt, nhưng khi cô nhìn kỹ lá giữa, nó liền lạc, tròn trịa, không có vết khuyết nào.

Cô không nói gì vội. Cô lấy từ giỏ ra một hũ nước chấm còn nguyên sáp, đặt cạnh hũ lạ. “Mời bác Tám xem, và mọi người xem. Sáp nhà cháu có dấu. Hũ này có dấu giống, nhưng giống ở ba lá, khác ở lá giữa. Dấu thật của nhà cháu, lá giữa có một vết khuyết, chỉ người làm dấu mới biết.”

Cô rút mẩu gỗ mít từ túi, ấn nhẹ vào mảnh sáp ong bà Lý đưa. Nhánh trúc hiện ra, và ở lá giữa, vết khuyết nhỏ như bị sâu ăn.

Đám đông cúi sát nhìn. Một ông già “ồ” lên. Có người lẩm bẩm: “Ra dấu nhà con Ngọc là thế này.”

“Cái dấu giả thì ai chẳng làm được!” gã đàn ông cãi, giọng không còn vững. “Con tôi ốm thật, hũ nào cũng thế!”

“Hũ nào ngon dở thì bác Tư biết rõ nhất.” Mai Ngọc quay sang sạp bên cạnh. “Bác Tư, bác làm tương hơn hai chục năm, bác nếm giúp con hũ này. Đây là hũ của anh ấy, đây là hũ của cháu.”

Cả chợ im bặt. Bà Tư ngồi bất động, bàn tay chai sạn bấu vào đầu gối. Rồi bà đứng dậy, chống nạng đi chậm tới. Bà nếm hũ lạ. Nhăn mặt. Nếm hũ của Mai Ngọc. Mắt bà nheo lại, môi mấp máy.

“Hũ này,” bà chỉ vào hũ có dấu giả, giọng hơi run vì giận, “là tương bã đậu trộn nước muối chát, ủ hai ngày là cùng. Ai làm ra cũng không dám xưng là tương. Còn hũ này…” Bà liếc hũ của Mai Ngọc, khẽ hừ, “…đúng là tương Trúc Khê.”

Một tràng xì xào dâng lên. Gã đàn ông tái mét. Đứa bé trong lòng gã thôi rên, mắt mở to.

Út Mận chạy tới, thở không ra hơi, tay bưng bình nước gừng. Nó đứng ngay trước mặt gã đàn ông, giọng ngây ngô nhưng rõ như chuông. “Sáng nay con đi mua kẹo mạch nha, con thấy chú này nhận cái hũ ấy từ một chú mặt có sẹo ở sau chợ. Chú mặt sẹo còn đưa chú ấy tiền nữa.”

Gã đàn ông sụp xuống như bị chặt chân. Ông lý Tám trợn mắt, quát: “Hắn đưa mày bao nhiêu?”

“Hai… hai xâu thôi bác lý ơi.” Gã khóc nấc, ôm chặt con. “Vợ tôi ốm, con tôi đói mấy ngày. Chú ấy bảo chỉ cần cầm hũ ra đây la lên, cho thằng nhỏ nằm vạ rên vài tiếng, xong muốn đi đâu thì đi. Tôi không biết là hại người…”

Không ai nói gì trong một lúc. Mai Ngọc thấy đứa bé cựa đầu trong ngực bố, nhìn cô bằng đôi mắt sợ sệt. Cô rót nước gừng ấm ra chén, đưa tận tay nó. “Uống đi, cho ấm bụng.” Rồi cô quay sang ông lý. “Bác Tám, chuyện này tùy bác xử. Nhưng cháu xin bác nói nhẹ tay. Người ta nghèo mà bị xúi dại.”

Ông lý Tám nhìn gã đàn ông, rồi nhìn cô, thở ra một hơi dài. “Cô nương này nói vậy thì tôi cũng nhẹ. Cút khỏi chợ, đừng để tôi thấy mặt thêm lần nữa.”

Gã đàn ông cúi rạp đầu, ôm con chạy mất. Từ phía sau đám đông, Trọng Nghĩa lách ra, mặt hơi nặng. Anh vừa chạy ra sau chợ, không thấy bóng gã sẹo nào, chỉ thấy vết bánh xe ngựa dài trên đường đất.

Bà Tư đứng lại một lúc, chống nạng, ánh mắt không còn thù ghét như sáng nay. Bà lẩm bẩm như nói với cái sạp của chính mình: “Bà già này làm tương hai chục năm, chưa bao giờ nếm được tương ngon thế. Không muốn nhận, nhưng nó là thế.”

“Bác Tư,” Mai Ngọc nói. “Cháu làm không xuể mười hũ mỗi phiên. Bác có muốn nhận cháu mười hũ để bán ở sạp bác, tính tiền theo hũ? Dấu nhà cháu, hàng nhà cháu, bác lấy tiền công.”

Bà Tư nhìn cô đến khi mắt cô cũng bắt đầu hơi chùng. Rồi bà bật ra một tiếng cười khô khốc. “Cô nương này đúng là làm ăn. Lấy! Bà già thề không pha tạp thứ gì.”

Chiều hôm đó, trên đường về, hai người đi chậm qua rặng tre. Nghĩa kể gã mặt sẹo anh từng thấy ở sân sau hiệu muối họ Tống.

“Hắn có chép được con dấu rồi,” Mai Ngọc nói. “Hắn đã thấy hũ nhà mình.”

“Hắn chép được ba lá,” Nghĩa đáp, giọng bình thản. “Còn chỗ khuyết, hắn không biết.”

Mai Ngọc nhìn mẩu gỗ mít trong lòng bàn tay, rồi khẽ cười. “Cái lá khuyết ấy hóa ra đáng giá hơn cả cái kệ.”