ĐĐọc Truyện
Hợp Đồng Tu Tiên

Chương 11: Làng Dưới Chân Núi

Mặt trời đã nghiêng sau rặng thông khi họ xuống đến lưng chừng núi. Từ bờ ruộng bậc thang nhìn xuống, ngôi làng hiện ra như một bàn tay xòe nhỏ bé nằm giữa sương chiều: ba chục mái nhà tranh, vài sợi khói bếp, và cái sân phơi chè rộng nhất làng, nơi lúc này chen chúc những bóng người quỳ thành từng hàng.

Thanh Vân đếm được hai chục kẻ mặc áo xám tro của Thiên Cơ Các, tay cầm kiếm, đứng vây quanh sân. Cạnh cột phơi chè, lão Ngô bị trói gô, râu tóc bết máu. Thím Hạnh quỳ ngay phía sau, vai ôm một đứa bé con nhà hàng xóm đang khóc thút thít. Còn cả bà lão câm và hai anh em nhà thợ rèn, những gương mặt anh quen từ lúc còn ẵm ngửa.

“Chúng bắt cả làng,” anh nói, hơi thở nghẹn lại. “Chỉ vì ta.”

“Chỉ vì cái dấu trên vai anh.” Tuyết Trần đứng ngay sau, giọng nàng trầm xuống. “Nghe ta. Đừng một mình xông vào. Bước ra từ phía đông, tay không, để chúng nhìn thấy anh. Ta ở trên mái kho trà, cứ cảm nhận qua sợi chỉ, khi anh siết ngực ba lần ta sẽ ra tay.”

“Ta sẽ không giết ai.”

“Điều hai của khế ước.” Nàng nói. “Ta nhớ.”

Thanh Vân đi vào sân phơi chè, hai tay mở rộng, con dao hái trà giấu trong ống tay áo. Tiếng bước chân anh làm cả sân quay đầu lại. Một gã đàn ông râu quai nón, ngực áo thêu hai vòng tròn bạc, tiến lên một bước.

“Diệp Thanh Vân. Các chủ nói cậu sẽ chờ đến hạn. Hóa ra cậu biết điều hơn thế.”

“Thả dân làng.” Anh nói. “Ta ở đây rồi.”

“Cậu theo bọn ta về hồ, họ sẽ được thả.” Gã nhếch mép. “Ta là Đoàn Khôi. Đi thôi.”

Thanh Vân đếm trong đầu. Anh nhìn lão Ngô đang cố ngoái lên đầy kinh hãi, nhìn thím Hạnh siết đứa bé. Rồi anh siết tay vào ngực áo, một lần, hai lần, ba lần.

Không khí đổi màu. Một luồng lạnh quét ngang sân, và mặt đất phơi chè, vốn ẩm sương, đóng băng thành một tấm kính trắng trong chớp mắt. Bốn gã áo xám trượt chân, ngã vật. Trên mái kho trà, Tuyết Trần đã đứng thẳng, kiếm gãy chỉ xuống, tóc bạc bay trong gió lạnh.

“Có phục kích!” Đoàn Khôi gầm lên. Từ trong tay áo hắn bay ra một sợi xích sắt đầu móc câu, quật thẳng vào mặt Thanh Vân.

Anh nghiêng người. Hơi thở dồn xuống đan điền, ngón tay bứt lên một nhịp ngắn như ngắt búp trà, con dao hái trà vẽ một vòng cung. Sợi xích bị cắt đứt làm đôi, đầu móc câu cắm phập vào cột phơi chè. Thanh Vân lao tới lão Ngô, một nhát cắt đứt dây trói. Anh nhảy qua hàng người đang quỳ, dùng sống dao hất văng hai gã đang lao lên, rồi quay mũi dao vào khe hở nhỏ xíu giữa vạt áo một người đứng sau, đánh vào mạch cổ tay, đủ để thanh kiếm rơi xuống nhưng không tổn thương xương.

“Chạy vào hầm trà!” Anh hét với dân làng. “Chạy, chạy hết đi!”

Tiếng la hét nổi lên. Dân làng ào về phía kho chè phía sau, đàn bà bế con, ông lão lê gậy. Hai anh em nhà thợ rèn dìu bà lão câm. Tuyết Trần nhảy từ mái xuống, kiếm gãy vạch một đường trước mặt, tạo thành bức tường băng chắn ngang lối vào khiến bọn áo xám không thể đuổi theo.

Nhưng chính lúc ấy, dấu tay đen trên vai Thanh Vân bùng cháy. Nó nóng rát, như có ai áp sắt nung vào da, và anh nghe tiếng chuông bạc xa xa vang lên từ phía sườn nam, rồi một đội mười mấy bóng áo xám nữa từ rặng thông ập xuống, chạy thẳng vào phía anh, không lệch một bước, như kim la bàn tìm cực.

“Cái dấu đó,” Tuyết Trần cắn răng, vừa đỡ một mũi kiếm vừa quát. “Nó là đèn hiệu! Mang anh đi khỏi dân làng!”

Họ đẩy lui Đoàn Khôi bằng một đường kiếm phối hợp chưa từng luyện, vì bên trong, hai nhịp tim đã gần như một. Khi nàng xoay nửa vòng thì anh cũng đã bước sang trái. Khi anh hạ thấp người thì nàng đã nhảy qua đầu anh. Đoàn Khôi bị đánh bật vào bức tường băng, kiếm văng khỏi tay, nằm im thở dốc. Mười mấy người áo xám mới tới khựng lại trước vòng băng trắng Tuyết Trần dựng giữa sân, còn Thanh Vân đã chạy vút lên đồi trà phía đông. Dấu tay trên vai anh nóng rát, và như anh dự đoán, cả đội truy binh đổ theo anh, bỏ lại ngôi làng sau lưng.

Họ chỉ cắt được truy binh khi trời đã tối hẳn, sau khi Tuyết Trần đóng băng cả lối mòn phía sau lưng và dẫn anh luồn qua một khe suối kín. Thanh Vân dựa vào gốc trà cổ, thở dốc. Cả hai đều thấm mồ hôi lạnh.

“Dân làng…” Anh nói.

“Họ nấp dưới hầm trà là được, miễn là dấu ấn của anh ở xa.” Tuyết Trần nhắm mắt một lúc. “Bọn chúng đã đuổi theo anh hết rồi. Ta nghe rõ, qua sợi chỉ.”

Họ vòng về phía sau hầm trà, nơi miệng hầm mở ra sườn đồi, khuất trong bụi tre. Lão Ngô đã đứng chờ ở đó, một tay ôm sườn, một tay chống gậy. Thím Hạnh theo sau, tóc xổ tung, trên tay cầm một cái bọc vải nhỏ.

“Thanh Vân, thằng bé này.” Thím lau nước mắt vào vạt áo. “Thím giữ cái này cho con. Áo bông của Linh Nhi. Mùa đông năm ngoái thím vá lại. Con mang theo, để lúc cứu được con bé thì có cái cho nó mặc.”

Anh cầm lấy cái bọc, bàn tay thô ráp nắm thật chặt. Lão Ngô thở hổn hển.

“Lão bớt cân của cháu suốt mười năm, cháu biết chứ?”

“Cháu biết.” Thanh Vân khẽ nói. “Cháu không bao giờ nói.”

“Lão không giữ lại một đồng. Lão gửi hết vào tiệm thuốc ở trấn, dặn ông thầy lang cứ tính cho con bé giá cũ. Giá thuốc đã tăng gấp ba từ năm kia.” Ông già cười toe, hàm răng thiếu mất hai chiếc. “Thằng ngốc này, đi đi. Chúng ta ở đây chờ.”

Cổ họng Thanh Vân nghẹn lại, không nói được một lời nào. Anh cúi xuống thật sâu trước hai người, rồi cùng Tuyết Trần men theo sườn đồi hướng lên rặng thông.

Họ chưa đi được trăm bước thì từ trong bóng tối của lối mòn phía trước có người vỗ tay, chậm rãi, ba tiếng. Một bóng người bước ra dưới ánh trăng, tay phải quấn băng đẫm máu đến tận vai, không mang theo kiếm.

“Sư muội,” Lãnh Phong nói. “Ta cần nói chuyện.”