ĐĐọc Truyện
Thư Không Còn Chờ Phong

Chương 13: Trụ Sở Ủy Ban

Đêm chủ nhật, Thanh Thư nằm nghe qua vách lá tiếng ba cô nói trong bóng tối, rất thấp, đứt quãng, đôi lần phải ngừng lại như người leo dốc. Má cô không ngắt lời. Tới khi tiếng nói của ba tắt hẳn, cô chỉ nghe một tiếng thở dài, dài đến mức khiến tim cô nhói lên.

“Ông là đồ hèn,” bà Bảy nói, không to. “Nhưng ông là chồng tui.”

Sáng thứ hai, bà dậy trước gà gáy, mặc chiếc áo bà ba lụa màu nâu bà chỉ mặc đi giỗ, đội khăn rằn gọn gàng, rồi đứng đợi ngoài sân. Ông Lâm nhìn vợ rất lâu, không ngăn.

Trụ sở Ủy ban nằm cạnh hội trường, tường gạch vàng, mái tôn đã sét, cột cờ đứng thẳng giữa sân đất nện. Phòng họp nhỏ bày một dãy bàn ghép, phía trên là bức ảnh ngả màu và chiếc quạt trần kêu kèn kẹt. Chủ tịch Sáu Tâm ngồi giữa, ông Trần bên phải, một cán bộ địa chính gầy khô ngồi bên trái, còn Hữu Phong ngồi ở đầu bàn thấp hơn, trước mặt là xấp giấy trắng và cây bút máy. Anh ta không ngẩng đầu lên khi gia đình cô bước vào.

Thanh Thư để ba mẹ ngồi trước. Cô ngồi sau họ một ghế, hai tay đặt gọn trên đầu gối.

“Ông Lâm,” chủ tịch bắt đầu bằng giọng chậm rãi của người đã quen việc hòa giải, “bà con có đơn phản ánh. Họ nói ông tiếp xúc với một ông khách ngoài, bàn chuyện bán đất bến đò. Mà đất đó là đất chung của xã, đang đề nghị quy hoạch, ông biết chứ?”

“Tôi không có đất ở bến đò.” Ông Lâm đáp. “Ba công ruộng của tôi nằm tuốt trong xóm. Tôi cũng chưa bán gì cho ai.”

Ông Trần lật mở tập hồ sơ dày. “Đơn có mười một chữ ký và dấu điểm chỉ của bà con, ông chủ tịch.” Ông đẩy tờ giấy sang. “Bà con ký thì phải có lý do.”

Thanh Thư nhìn qua vai ba. Tờ đơn viết tay cùng một nét chữ từ trên xuống dưới, mười một dấu mực tím nhòe nhoẹt đều đặn như đóng bằng một con tem. Cô lướt mắt theo cột tên, rồi dừng lại ở dòng thứ sáu.

“Thưa chú Sáu,” cô cất tiếng, rất lễ phép. “Con xin hỏi một câu được không?”

Chủ tịch gật đầu, hơi miễn cưỡng.

“Đơn này đề ngày hai mươi tháng sáu. Dòng thứ sáu là ông Bảy Cầu.” Giọng cô đều và rõ. “Ông Bảy Cầu mất hồi rằm tháng hai, nhà ở cách nhà con ba con kênh. Con đi đám tang ổng cùng má con. Con không biết ổng điểm chỉ vô đơn này bằng cách nào.”

Trong phòng không ai nói. Chiếc quạt trần kêu kèn kẹt thêm hai vòng. Ông chủ tịch cầm tờ đơn lên, soi, nheo mắt nhìn dòng thứ sáu, rồi quay sang nhìn ông Trần. Ông Trần mỉm cười, một nụ cười bóng mượt, không hề rạn nứt.

“Chắc bà con nhờ người điểm chỉ thay, mình ghi nhầm ngày. Xã sẽ xác minh lại từng người.” Ông nói trơn tru như nước chảy. “Nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ. Còn chuyện lớn hơn, tôi nghĩ ông chủ tịch nên coi thêm cái này.”

Ông rút từ trong tập hồ sơ một tờ giấy vàng ố, nét mực đã phai. Thanh Thư không cần đọc cũng biết đó là gì. Ông Lâm ngồi trước mặt cô, lưng ông vốn đã còng, bây giờ cong thêm một chút.

“Biên bản kiểm kê tài sản của thương gia Thẩm Bá Khánh, tháng ba năm bảy mươi tám. Chữ viết và chữ ký của chính ông Lâm, thư ký lập biên bản.” Ông Trần đặt tờ giấy lên bàn, ngón tay gõ gõ lên một chữ ký ở cuối. “Trong đó ghi rõ bảy lượng vàng. Nhà nước đã xử lý xong từ lâu. Giờ có người ngoài về, nói cái biên bản đó sai, mà người đi nói chuyện với họ lại chính là người viết ra nó.”

Ông quay sang ông Lâm, giọng rất ôn tồn. “Ông Lâm, tôi nhắc anh em mình hồi đó. Người ký giấy tờ sai sự thật cũng phải chịu trách nhiệm. Ông mà nói biên bản đó là sai, tức là ông tự nhận mình đã khai man trước cơ quan. Tôi không muốn thấy ông vô tù vì một người ngoài.”

Cả căn phòng nín thở. Thanh Thư hiểu ra: ông Trần chẳng cần chối, ông đã chuẩn bị sẵn cái bẫy từ mười tám năm trước. Chính chữ ký của ba cô là cái cùm. Nếu ba cô nói sự thật, ông tự tố cáo mình. Nếu ông im lặng, nhà họ Thẩm vĩnh viễn không có cách nào đòi lại.

Ông Lâm không đáp. Đôi bàn tay ông đặt trên đầu gối, run đến nỗi bà Bảy phải đưa tay đè lên.

Ở đầu bàn, tiếng bút máy bỗng ngừng lại. Hữu Phong vẫn nhìn xuống giấy, nhưng đầu bút đã đứng yên, một giọt mực đen loang dần trên tờ biên bản. Thanh Thư nhìn anh ta. Anh ta ngẩng lên, chạm vào ánh mắt cô, trong một khoảnh khắc ngắn, và cô thấy trong đó không phải sự đắc thắng, cũng không phải sự thù hằn như hôm cưới. Chỉ có thứ gì đó rất mệt, rất hổ thẹn, cái nhìn của người vừa chạm tay vào một thứ mình đã từng chạm tới, rất lâu về trước. Rồi anh ta cúi xuống, lấy giấy thấm đè lên vết mực.

“Ông Lâm,” chủ tịch nói sau một lúc, “ông về, viết một bản tường trình, ba ngày nộp cho xã. Chuyện gì ông gặp, ông nói gì với ai. Ông nghĩ kỹ rồi hãy viết.”

Ông Trần chưa đứng dậy. Ông nghiêng người về phía ông Lâm, giọng bỗng hạ thấp, nhỏ vừa đủ cho gia đình cô nghe: “Hồi đó ông có tật hay ghi chép mọi thứ vô cuốn sổ bìa xanh, nhớ không? Giá cá giá rau, ngày nào xuống ruộng, cái gì cũng ghi. Cuốn sổ đó giờ đâu rồi ông?”

Bàn tay ông Lâm nằm yên dưới tay vợ. “Đốt lâu rồi.”

“Vậy thì tốt.” Ông Trần cười, vỗ nhẹ lên vai ông Lâm. “Hai nhà là sui gia, ông đừng để con gái làm ông mất khôn.”

Bà Bảy bất chợt đứng bật dậy. Thanh Thư giật mình. Má cô hiếm khi đứng lên trước mặt người lạ, ấy vậy mà lúc này bà đứng, đầu ngẩng cao, nhìn thẳng vào mặt ông Trần.

“Tui là sui gia hồi nào, ông Trần?” Giọng bà không run. “Con gái tui hủy cưới trước cả làng. Ông chủ tịch ở đây làm chứng.”

Không ai đáp. Bà Bảy kéo tay chồng, nắm chặt, dắt ông đi ra khỏi phòng họp. Thanh Thư đi theo sau, và khi bước qua cửa, cô nghe tiếng ông chủ tịch ho một tiếng thật dài, như người vừa nuốt phải thứ gì nghẹn.

Đường về dài hơn thường ngày. Mặt trời đã lên cao, hơi nóng bốc từ mặt đê lên. Ba người đi qua bến đò không ai nói với ai, tới khi đò sang bờ bên này, ông Lâm mới đứng lại ở rìa đê, nhìn xuống dòng nước nâu.

“Ba nói dối,” ông nói, rất khẽ. “Ba không đốt nó.”

Thanh Thư quay phắt lại. Bà Bảy cũng đứng sững.

“Hồi đó ba làm hai cuốn,” ông nói, mắt không rời mặt nước. “Một cuốn viết theo lời ông Trần. Một cuốn ba ghi những gì mắt ba thấy. Ba chôn nó dưới gốc mít sau nhà, hồi năm bảy mươi tám. Mười tám năm nay, mỗi lần tưới cây ba đều đi qua chỗ đó.”