ĐĐọc Truyện
Mai Hạ Đừng Rời Đi

Chương 10: Hầm Xe Tầng B2

Tiếng ly vỡ vang lên trong hành lang trống như một tiếng pháo nhỏ. Người đàn ông tóc muối tiêu không nhìn xuống mảnh thủy tinh dưới chân. Ông đặt khay lên bậu cửa sổ, đứng thẳng lưng, rồi khép tay trước bụng theo kiểu của người từng được dạy phải cúi chào những người chủ.

“Xin lỗi cô,” ông nói, giọng khàn đặc. “Tôi nhầm. Cô giống quá… Cô tên gì ạ?”

“Mai Hạ. Cha tôi là ông Mai Quốc Huy.”

Hai chữ cuối làm mặt ông co lại. “Mai Quốc Huy. Bến cá.” Ông lẩm bẩm, như đang nhìn lại một đoạn dài nào đó phía sau lưng, rồi mắt ông trượt xuống chiếc lắc tay mạ vàng ở cổ tay trái cô và dừng lại đó, sáng lên vì nước. “Cô đeo thứ này là đúng. Đúng rồi.”

“Chú là ai?” Mai Hạ hỏi khẽ. “Hôm qua có người đứng khóc ở bệnh viện, nhìn ảnh tôi dán đầu giường cha tôi. Có phải chú không?”

Ông không đáp. Ở đầu hành lang xa xa, có tiếng giày của quản lý ca đi tới. Ông thò tay vào túi áo, đẩy vào lòng bàn tay cô một mảnh khăn giấy gấp nhỏ, rồi nói rất nhanh, rất nhỏ: “Mười một giờ, hầm xe B2, khu xe dịch vụ. Đừng báo cho ai họ Lê, đừng cho ông ấy biết. Cả cái nhẫn…” Ông nuốt khan. “Cô hỏi cha cô chuyện đêm bão. Ông ấy sẽ kể, khi nào ông ấy đủ sức.”

Ông cúi xuống nhặt mảnh thủy tinh, bưng khay lên. Khi quản lý ca rẽ vào hành lang, ông chỉ còn là một người phục vụ thời vụ đang xin lỗi vì làm vỡ ly.

Mười một giờ kém năm, Mai Hạ nói với Duy Minh rằng cô cần ra ngoài hít thở một lát. Anh đang đứng giữa nhóm khách Hàn Quốc, chỉ kịp nhìn cô một cái rất sâu rồi gật đầu. Thảo Vy hiểu ý, đứng chắn trước tầm nhìn của Khánh Ngân bằng điệu bộ chuyện trò rôm rả. Mai Hạ băng qua cửa kho, bấm thang máy nhân viên mà cô thuộc từng nút, xuống B2.

Hầm xe vắng lặng, ánh đèn neon thưa thớt chiếu xuống những hàng cột bê tông. Mùi dầu máy và hơi ẩm ngấm vào cổ họng. Ở khu để xe dịch vụ, mấy chiếc xe tải nhỏ đỗ im lìm, và sau cột thứ ba, ông phục vụ ban nãy đứng đợi, đã cởi áo khoác trắng, vắt trên cánh tay.

“Tôi là Tư Đạt,” ông nói, không đưa tay ra. “Tôi lái xe cho ông Lục hai mươi năm. Tôi cũng là thợ máy, như cha cô.”

“Chú nói đêm bão, là đêm nào?”

“Không phải đêm đó. Đêm đó cô còn chưa…” Ông lắc đầu, tự cắt lời. “Chuyện đó của cha cô. Chuyện tôi nói được là chiếc xe của cô Yên. Chiều hôm trước, chính tay tôi kiểm tra phanh. Ống dầu còn mới, má phanh còn dày. Sáng hôm sau người ta vớt xe lên, tôi lén tháo một đoạn ống dẫn trước khi họ kéo đi ép.”

“Chú giữ nó?”

“Tôi giữ.” Ông móc từ túi quần ra một thẻ chìa khóa gắn miếng nhựa cũ, nhét vào tay cô. Con số 214 in mờ trên mặt nhựa. “Tủ gửi đồ ở nhà ga. Trong đó có đoạn ống, có cuốn sổ ghi lịch bảo dưỡng và vài thứ khác. Cô đừng đưa cho ông Thịnh, và…”

Một ánh đèn pha quét ngang. Tiếng động cơ nổ lên ở đầu dốc hầm. Ông Đạt quay phắt đầu lại. Một chiếc xe tải thùng kín đen sì chạy chậm vào khu dịch vụ, tắt máy, hai cánh cửa mở ra. Hai người đàn ông mặc áo thun đen bước xuống, dáng đi của những kẻ không làm phục vụ.

“Ông Đạt!” Một người gọi to, giọng xã giao đến giả tạo. “Quản lý cần ông lên làm thêm ca, lên xe đi.”

Ông Đạt không nói không rằng, ném chiếc áo phục vụ về phía họ rồi lao vào cánh cửa thoát hiểm bên trái. Một người đuổi theo, tiếng chân dội lên cầu thang xoắn. Người còn lại bước chậm về phía Mai Hạ, hai tay khoanh trước ngực.

“Cô Mai, ông Thịnh nhờ chúng tôi tìm cô. Ở dưới này không an toàn, mời cô theo tôi lên sảnh.”

Cô nắm chặt chiếc thẻ trong tay áo. Ngón tay trái cô lần tới chấm nhỏ trên chiếc lắc, nhưng chưa kịp bấm thì có tiếng thang máy “ting” vang lên sau lưng.

“Không cần.”

Duy Minh bước ra khỏi thang, áo vest khoác hờ, trên cổ áo còn dính một giọt rượu sâm panh. Anh đi ngang qua Mai Hạ, đứng chắn trước cô. “Hai người làm việc cho ai mà vào được hầm riêng của Luna Bay vào giờ này?”

Gã đàn ông sững lại một nhịp. “Bộ phận bảo vệ của… chúng tôi có lệnh kiểm tra xe tải.”

“Tôi là chủ của nơi này. Tôi chưa ký lệnh nào.” Giọng Duy Minh nhỏ và đều. “Xe của các anh biển số nào, tôi cho gọi quản lý tòa nhà kiểm tra ngay. Hay các anh muốn rời đi trước khi tôi gọi?”

Có tiếng bước chân dồn dập dội lại từ cầu thang thoát hiểm, rồi dừng. Người đuổi theo trở lại, thở dốc, lắc đầu với gã kia. Hai người nhìn nhau, lùi lên xe. Chiếc xe tải thùng kín lùi ra khỏi chỗ đỗ, đèn hậu đỏ rực chạy dọc theo hầm rồi mất hút.

Chờ cho tiếng động cơ tan hẳn, Duy Minh mới quay lại. Mặt anh trắng bệch, trán rịn mồ hôi.

“Cô không nhấn nút.” Anh nói, đầy bực dọc chứ không phải tức giận. “Tôi nhìn thấy dấu hiệu rời khỏi phòng tiệc của cô trên điện thoại. Nếu tôi đến muộn một phút…”

“Tôi chưa kịp.” Cô ngập ngừng. “Và tôi cũng chưa biết nên tin ai.”

Anh gật đầu chậm rãi, như người nhận một cú đánh đáng lẽ phải nhận từ lâu. “Phải. Công bằng.”

Cô mở bàn tay, đưa tấm thẻ ra. Anh nhìn con số 214, rồi nhìn mảnh nhựa đã sờn viền, và nhắm mắt lại.

“Chú Tư Đạt,” anh nói khẽ. “Tài xế riêng của ông Lục. Sau đám tang của Yên, chú ấy biến mất. Tôi tìm suốt ba năm, qua đủ mọi người, mọi bến xe.” Anh mở mắt. “Chú ấy nói gì với cô?”

“Rằng phanh xe chị ấy còn tốt vào chiều hôm trước. Và rằng chiếc xe không tự mất lái.” Mai Hạ nuốt xuống. “Cô Nhược Yên không chết vì tai nạn, đúng không?”

Duy Minh không trả lời. Ánh mắt anh nhìn qua đầu cô, về phía lối thoát hiểm vừa khép lại sau lưng ông Đạt, nơi một ông già tóc muối tiêu đã chạy bằng tất cả sức còn lại.

Họ lên lại phòng tiệc bằng đường thang máy riêng. Khi cửa mở ra, Lê Bá Thịnh đang đứng ngay cạnh cửa, một tay đút túi, tay kia cầm ly rượu vang. Ông ta mỉm cười hiền như một người chú, nâng ly lên mừng họ trở lại, và chiếc nhẫn bạc hình bướm sáng lên dưới ánh đèn chùm.