ĐĐọc Truyện
Thư Không Còn Chờ Phong

Chương 12: Lời Đồn Chạy Nhanh Hơn Đò

Chuyến đò ngang chiều thứ năm chở đầy người, nhưng chỗ ngồi hai bên Thanh Thư thì trống. Cô nhận ra điều đó khi đặt giỏ xuống sàn ghe, nghe tiếng nói chuyện rôm rả của mấy bà bán rau đột nhiên tắt ngúm như bị ai bóp cổ. Người chèo đò, một bà già cô quen mặt từ nhỏ, chèo qua sông mà không liếc cô lấy một lần.

Chỉ ba hôm sau buổi tiệc, câu chuyện đã mọc thêm đủ thứ chân tay. Người nói cô là vợ lẽ của ông khách Thượng Hải, mỗi tháng được cấp tiền gạo. Người nói cô bán rẻ đất bến đò của cha để lấy vàng. Có kẻ còn quả quyết thấy tận mắt cô bước lên chiếc xe sedan đen lúc nửa đêm, rồi sáng mới về. Mỗi lời đồn lại bám thêm một chút sự thật nhỏ, như con ốc bám vào cọc bến, để nghe ra đáng tin.

Cô bước xuống bến, đi qua mấy hàng quán lèo tèo. Có người hạ giọng xuống khi cô lướt qua, có người quay mặt đi, và có một đứa trẻ tò mò bị mẹ kéo giật lại. Không ai ném đá. Đôi khi sự im lặng làm đau hơn cả đá ném.

Về đến sân nhà thì đã thấy ba chiếc nón lá úp ngoài hiên, đó là dấu hiệu bà con hàng xóm sang “thăm hỏi”. Thanh Thư đứng lại sau cánh cổng tre, nghe giọng bà Tư tạp hóa chõ vào, ngọt như đường thắng: “Chị Bảy à, tôi nói thiệt lòng, con gái mình cứng quá cũng khổ. Giờ mà nhà họ Trần còn chịu rước, chị nhón chân mà gả liền cho rồi.”

Má cô không đáp. Chỉ nghe tiếng chén sứ khua nhẹ trên mâm, run như sắp rơi.

Khi các bà ra về, mặt ai cũng mang một vẻ thương cảm giả tạo, Thanh Thư mới bước vào. Mẹ cô ngồi trên ván, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn chằm chằm xuống mặt nền đất. Thấy con, bà không nói gì một lúc, rồi mở miệng, giọng khô khốc:

“Con đi gặp ông Tàu đó thiệt hả Thư?”

“Con có gặp, má. Ban ngày, có chú Lưu đi theo, ngồi ngoài cổng.”

“Gặp để làm gì?” Giọng bà vỡ ra, cao vút. “Má chịu cho con hủy cưới, má chịu cho thiên hạ cười má. Nhưng má không chịu nổi cảnh người ta chỉ vô mặt con rồi nói con…” Bà nuốt tiếng vào cổ, đưa tay áo lên quệt mắt. “Má sống cả đời không dám ngẩng mặt, Thư à. Má chỉ muốn con yên ổn. Má không cần con giỏi, má cần con yên.”

Thanh Thư quỳ xuống trước mặt mẹ, nắm lấy đôi bàn tay chai sần, lạnh ngắt. Cô muốn nói với bà tất cả, từ những đêm cô nằm trong căn nhà trọ ở kiếp trước nghe tiếng ho của chính mình, tới ánh mắt ba cúi xuống mỗi lần ông Trần bước vào nhà. Nhưng cô chỉ nói được một phần.

“Má, nhà họ Trần không phải nhà tử tế như mình tưởng. Gả vô đó, con không còn sống nổi. Con không nói dối má đâu.”

“Sao con biết?”

“Con biết.” Cô nhìn vào mắt mẹ. “Và ông Thẩm đó không phải người xấu hoàn toàn như người ta nói. Chuyện của ông ấy liên quan tới ba, má. Để ba tự kể.”

Bà Bảy ngẩng lên. Gương mặt hiền lành, hốc hác của bà thoáng đổi sắc khi nghe tới hai chữ “liên quan tới ba”. Hai mươi mấy năm làm vợ, bà đã quen với những khoảng im lặng của chồng, nhưng không có nghĩa là bà không nhận ra mỗi khoảng im lặng đều có hình dạng.

Chưa kịp hỏi, tiếng xe đạp thắng gấp ngoài ngõ cắt ngang. Tuấn lao vào sân, đầu tóc bù xù, áo trắng học trò xé toạc một bên tay, gò má trái tím bầm.

“Trời đất ơi!” Bà Bảy bật dậy. “Con làm sao vậy?”

“Con đánh nhau.” Thằng bé mười bảy tuổi, cao hơn chị nửa cái đầu, cố ưỡn ngực như thể một vết bầm là huy chương. “Thằng Hưng nói chị Hai làm… làm cái chuyện người ta đồn. Con đấm nó.”

Thanh Thư với tay lấy chai rượu thuốc trên kệ, kéo em ngồi xuống bậc thềm. “Người ta nói thì cứ nói. Em đánh nhau xong thì được cái gì?”

“Được nó im miệng.” Tuấn nhăn mặt khi cô ấn miếng bông lên má. “Chị, em không hối hận. Em biết chị không làm gì sai. Có ai nói chị thì em đánh tiếp.”

Cô cười, lần đầu tiên sau mấy ngày, nụ cười ngắn và run. Đoạn bông thấm rượu rịn xuống thành giọt nâu sậm. “Học trò đánh nhau thì ghi vô học bạ đó, em.”

“Mặc kệ.”

Bà Bảy đứng sau lưng hai chị em, đưa tay lên miệng. Thanh Thư thấy đôi vai bà run, và cô biết bà sắp khóc, nhưng lần này không phải vì sợ miệng đời.

Ông Lâm đi chợ về muộn, người nồng mùi bùn, trên tay cầm nắm hẹ và con cá rô. Ông đặt giỏ xuống, nhìn thấy gò má thằng con, nhìn thấy khuôn mặt vợ và con gái, rồi hiểu ra cả. Ông chưa kịp nói gì, thì từ cổng tre vang lên tiếng ho khan của một người mặc áo xanh dân quân, cầm xấp giấy mỏng gập đôi.

“Ông Lâm có nhà không? Có giấy mời của xã.”

Người đó đưa tờ giấy tận tay, đợi ông ký nhận vào sổ rồi mới về. Ông Lâm đọc, từ từ, môi mấp máy. Thanh Thư đứng cạnh, đọc theo từ trên vai ông.

“Mời ông Lâm có mặt tại trụ sở Ủy ban xã lúc tám giờ sáng thứ hai tuần tới, làm việc về nội dung đơn phản ánh của bà con liên quan đến việc ông tiếp xúc, bàn bạc mua bán đất đai với người ngoài.” Dưới là chữ ký của chủ tịch xã Sáu Tâm, con dấu đỏ tươi, và ở góc phải, chữ viết nắn nót của người thư ký lập biên bản: Trần Hữu Phong.

“Thư ký lập biên bản.” Ông Lâm khẽ nói, cười khẽ, một nụ cười rất lạ. “Mười tám năm trước ba cũng ngồi đúng cái chỗ đó.”

Bà Bảy giật tờ giấy từ tay chồng, đọc, rồi ngẩng lên. Trong đôi mắt đỏ hoe của người đàn bà quen cúi đầu, có một thứ mới lóe lên mà Thanh Thư chưa từng thấy.

“Ông,” bà hỏi, giọng không to nhưng cứng, “chuyện gì ông còn giấu tui?”