Chương 11: Con Dấu Trúc Khê
Tiệm tạp hóa của ông Bảo nằm ở đầu làng, ngay dưới gốc đa, bán đủ thứ từ kim chỉ đến dầu thắp. Sáng hôm sau Mai Ngọc đứng trước đống bao muối xếp dựa vách, nhìn kỹ từng cái. Bao đay buộc dây gai, trên mỗi bao có đóng dấu đỏ hình cái cân.
“Muối thành, nhà họ Tống đưa về,” ông Bảo nói, giọng tự hào như thể chính ông làm ra. “Hạng nhất, hai đồng một cân, đắt hơn muối chợ một đồng mà trắng, khô, bao nào cũng sạch.”
Mai Ngọc thò tay vào một bao, bốc một nắm. Hạt to, trắng, hơi lạnh, bóc ra không dính tay. Cô đưa lên mũi ngửi, rồi chấm đầu lưỡi một hạt. Mặn gọn, không chát.
“Ông Bảo bán cho cháu mười lăm cân.”
“Nhà bà Thơm làm tương nhiều thế cơ à?” Ông Bảo vừa cân vừa liếc sang, mắt nửa tò mò nửa ngưỡng mộ. “Nghe nói tương nhà cháu được cả người trên thành hỏi.”
“Cháu làm cho đủ ăn thôi ạ.”
Về đến nhà, cô hòa một nắm muối vào bát nước giếng trong, để nguyên mười lăm phút. Nước vẫn trong, đáy bát chỉ có một lớp bột trắng mỏng bằng móng tay. Cô nếm nước muối, rồi gật đầu. Chưa có dấu hiệu gì của thứ chuyện Nghĩa kể đêm qua. Cô vẫn ghi vào một mảnh vải cũ: ngày mua, nơi mua, giá, cách thử. Thói quen từ hồi còn là người làm nội dung, thấy gì cũng phải có ghi chép.
Bữa tối, cả nhà ngồi quanh mâm cơm. Mai Ngọc kể lại cuộc gặp ở quán trà, kể cả chuyện bà Hạnh, trừ chuyện của Nghĩa. Bà Thơm đặt đũa xuống từ giữa câu chuyện, còn anh Đức ngồi thẳng dần lên.
“Tám đồng một hũ lớn,” anh Đức nhắc lại, như đang nhẩm tính một lần nữa. “Mười hai hũ tương, hai mươi hũ nước chấm, ba mươi hũ dưa. Mà mày nhận không có tiền ứng. Nhỡ họ chê thì sao?”
“Thì mình mất vốn đậu muối của một mẻ, anh ạ.” Cô lấy mẩu than, viết thẳng lên tấm ván kê bên cạnh. “Vốn một hũ tương độ ba đồng, bán tám đồng. Mười hai hũ là sáu mươi đồng lời. Anh đi làm thuê cả tuần mới được chừng ấy.”
Anh Đức nhìn những con số nguệch ngoạc trên ván, mắt anh đi theo từng hàng như người đếm bao thóc. “Lời hơn làm thuê mười lần,” anh lẩm bẩm. “Mà không phải chịu nắng.”
“Chịu nắng thì vẫn phải chịu,” Mai Ngọc cười. “Chỉ là nắng nhà mình.”
Anh Bình xới thêm bát cơm, nhai chậm rãi rồi hỏi đúng một câu: “Ủ ở đâu? Nhà chật.”
“Sau vườn, chỗ bụi chuối. Làm cái chái nhỏ, nền cao, mái lá dày, bốn bề thoáng.” Mai Ngọc đã nghĩ kỹ từ trưa. “Em muốn làm tương theo cách khác, ngon hơn mẻ trước. Phải ủ cho lên mốc vàng trước rồi mới ngâm muối, nên cần chỗ mát, ít gió lùa, không ẩm quá.”
Bà Thơm vẫn im. Một lúc sau bà đứng dậy vào buồng, lục lọi trong hòm, rồi quay ra, đặt lên mâm một ống tre bịt kín hai đầu. Cái ống nặng, khi đặt xuống kêu lanh canh.
“Tiền mẹ dành dụm từ hồi cha các con còn sống,” bà nói, giọng hơi lạc đi. “Mẹ giữ để lo cho đám cưới của con. Giờ con cầm lấy mà làm, hỏng thì thôi, mẹ không trách.”
Mai Ngọc nhìn ống tre rất lâu. Cô đã nhận hàng trăm lời khen trên mạng, hàng ngàn lượt tim, hàng triệu lượt xem. Chưa lần nào cô thấy cổ họng mình nghẹn như lúc này.
“Con sẽ trả mẹ gấp đôi,” cô nói. “Không phải để đền mẹ. Để mẹ khỏi giữ ống tre trong hòm nữa.”
Ba ngày sau, cái chái ủ dựng xong sau bụi chuối. Anh Đức và Trọng Nghĩa làm từ sáng đến chiều, nền cao ba gang, vách nan, mái lá cọ chằng hai lớp. Anh Bình mang rơm khô sạch từ ruộng về, trải đầy nền, cẩn thận như trải giường cho khách quý. Bà Lý ngó sang hàng rào, cuối cùng không nhịn nổi, mang sang một khay sáp ong. “Cho con Ngọc, sáp nhà bà, để đóng nút hũ.”
Út Mận, cháu nội bà Lý, mười một tuổi, đứng nhìn từ đầu đến cuối với đôi mắt tròn xoe. “Chị Ngọc, em được nếm không?”
“Được, nhưng phải nếm cho thật thà. Ngon nói ngon, dở nói dở.”
Chiều hôm đó, khi xong việc, Trọng Nghĩa đặt vào tay cô một mẩu gỗ mít vuông bằng nửa lòng bàn tay. Mặt gỗ khắc nổi một nhánh trúc ba lá, nét dao gọn, từng lá thon như lưỡi dao. Cô ấn thử vào khay sáp ong. Một nhánh trúc hiện lên nhỏ xinh, rõ từng đường gân.
“Con dấu nhà cô,” anh nói. “Dấu để người ta biết hũ này của ai.”
Mai Ngọc xoay mẩu gỗ trong tay, nhìn kỹ. Ở chiếc lá giữa có một vết khuyết rất nhỏ, như bị sâu ăn. “Cái này anh khắc nhầm à?”
“Cố ý.” Khóe mắt anh nheo nhẹ. “Hàng hay thì có người bắt chước. Nhưng chỉ chúng ta biết lá giữa có khuyết.”
Cô bật cười, lần đầu tiên sau mấy ngày căng thẳng. “Anh nghĩ xa hơn tôi.”
“Ở trại tôi phải thế. Con dấu nào cũng có thể giả.”
Đêm đó Mai Ngọc ở lại chái ủ đến khuya. Cô nấu xôi nếp và đậu nành chín mềm, giã nhẹ, rải mỏng lên mẹt lót lá chuối, đậy bằng rơm và một lớp lá. Cô đã làm việc này một lần trong đời, hồi đi thực tế ở Bắc Ninh, đứng cạnh một bà cụ bảo cô: “Con ạ, mốc cũng là một sinh vật biết nghe lời, ấm vừa thì nó mọc, nóng quá thì nó chết.”
Ngày thứ tư, cô hé lớp rơm ra buổi sáng. Hơi ấm ngai ngái bốc lên, mùi như mùi bánh mới nướng. Trên mặt những hạt đậu, những hạt nếp, phủ một lớp tơ mịn sắc vàng, như phấn hoa cau mới rụng.
Cô đứng nhìn rất lâu, tay đưa lên che miệng.
“Chị Ngọc, nó mọc lông kìa!” Út Mận reo lên sau lưng.
“Đúng rồi,” Mai Ngọc nói, mắt vẫn không rời mẹt đậu. “Mốc hoa cau. Vậy là được rồi.”