Chương 9: Cuộc Mặc Cả Ở Quán Trà
Mai Ngọc nhìn chiếc túi gấm nằm giữa mặt bàn, rồi nhìn người đàn bà vừa đặt nó xuống. Bà ta chừng bốn mươi lăm tuổi, búi tóc gọn, áo gấm màu rêu hơi sờn ở cổ tay, ngón tay đeo chiếc nhẫn bạc mòn nhẵn như của người quen gảy bàn tính cả ngày.
“Bà bảo thứ tôi đang nắm giữ làm cả thành không ngủ yên,” Mai Ngọc nói. “Tôi chỉ có mấy hũ tương thôi, thưa bà. Nặng lời thế tôi không dám nhận.”
Người đàn bà bật cười, lần này nụ cười chạm tới đuôi mắt. “Cô nương nghe ra rồi. Nói quá một chút để cô chịu ngồi xuống nghe tiếp, là cái tật nhà nghề của tôi, xin cô bỏ qua.” Bà ta kéo ghế ngồi, không đợi mời. “Tôi họ Ngô, tên Hạnh, giữ sổ sách và việc mua bán cho Nhã Hương lâu trên thành. Chủ của tôi là ông Phùng. Còn hôm phiên chợ, người mua một hũ tương nhỏ ở chiếu của cô nương chính là tôi.”
Mai Ngọc nhớ ra người đàn bà đã đặt mấy đồng xu lẻ lên chiếu, hôm ấy mặc áo nâu, đội nón rộng vành, cô chỉ kịp nói lời cảm ơn.
“Hôm đó bà ăn mặc khác hẳn.”
“Đi chợ làng mà mặc gấm thì ai cũng nhìn, ai cũng nâng giá.” Bà Hạnh nhấc ấm trà lên rót, tay rất vững. “Hũ ấy tôi xách về, thầy bếp của lầu chấm thử với miếng đậu phụ rán, rồi đứng im một lúc lâu. Chiều hôm đó cả bếp kéo ra hỏi mua ở đâu. Tôi cho người dò thì mới biết, trước tôi một bước đã có kẻ ngỏ lời với cô nương rồi. Gã lái buôn vải thô ở chợ, là người của lão Tống Vĩnh.”
Ở bàn bên, ông chủ quán trà nãy giờ nấp sau cái chum nước, lúc này thò đầu ra hỏi có cần pha ấm mới không. Chẳng ai trả lời, ông lại rụt vào.
Mai Ngọc cầm chén trà, không uống. “Lão Tống Vĩnh buôn muối. Bà quen lão?”
“Lão cung muối cho nửa số quán ăn trong thành, lầu chúng tôi cũng mua của lão. Nên tôi biết rõ lão không bỏ qua thứ gì có lời.” Bà Hạnh nhìn thẳng vào cô. “Tôi nói thật để cô nương khỏi phải đoán. Tôi muốn tương của cô cho bếp của lầu. Muốn đều đặn, mỗi tháng, đúng một vị.”
Trọng Nghĩa từ nãy đứng im phía sau ghế. Lúc này anh bước lên, lặng lẽ đẩy chiếc túi gấm từ chỗ bà Hạnh sang giữa mặt bàn, không về phía bên nào. Mùi linh chi thái lát và trầm hương thoang thoảng bay lên.
“Lễ để ở giữa,” anh nói. “Thỏa thuận xong rồi hãy có người cầm.”
Bà Hạnh nhìn chiếc túi, nhìn anh, khóe miệng nhếch nhẹ nhưng không nói gì. Mai Ngọc thấy lạ, vì cách bà liếc anh không phải kiểu liếc một anh thợ mộc. Nhưng chuyện đó phải để sau.
“Bà muốn mua thế nào?” cô hỏi.
“Công thức,” bà Hạnh nói ngay. “Tôi trả một số mà cả nhà cô nương làm ruộng mười năm cũng không dành dụm nổi. Cô nhận bạc, tôi nhận cách làm, từ đó hai bên không nợ nhau.”
Mai Ngọc đặt chén xuống. Trong đầu cô hiện lên mấy hợp đồng nhãn hàng từng đặt trước mặt mình hồi còn quay video, cái nào cũng có một dòng nhỏ ở cuối trang mà người ký vội thường bỏ qua.
“Hũ sành nhà tôi mỗi tháng đẻ ra một lần tiền,” cô nói. “Bán công thức là bán con gà đẻ trứng để lấy một bữa no. Công thức tôi không bán. Tương thì tôi bán.”
“Bán theo giá chợ?”
“Chợ phiên năm đồng một hũ lớn. Tương cho lầu của bà tôi lấy tám đồng, vì tôi sẽ không làm qua loa. Mỗi mẻ lầu được chọn trước, nhưng tôi không ký độc quyền, vì nếu hôm nào lầu đổi ý thì nhà tôi không thể đói theo. Hũ rỗng trả lại, tôi bớt một đồng. Mỗi hũ có dấu riêng của nhà tôi để lầu biết hàng của ai, và người ta cũng biết hàng của ai.”
Bà Hạnh nhướng mày. Mai Ngọc nói tiếp, giọng đều đều như đọc bảng giá. Nước chấm gừng mật hũ nhỏ ba đồng. Giao theo tháng, đủ số hay thiếu số cô báo trước mười ngày. Tiền trả khi nhận hàng.
“Không nhận tiền ứng?” bà Hạnh hỏi. “Ai làm hàng cũng muốn có chút bạc cầm trước để mua đậu, mua muối.”
“Tiền chưa làm ra mà cầm trước là tự đeo vòng vào cổ,” Mai Ngọc đáp. “Hôm nay tôi cầm tiền của bà, mai bà muốn đổi vị đổi giá, tôi lấy gì để nói không? Hàng của tôi, tôi tự lo vốn.”
Bà Hạnh im lặng khá lâu. Bên ngoài, gió thổi qua mái tranh quán trà, làm tấm màn che cửa phập phồng. Rồi bà bật cười lần nữa, lần này nhỏ hơn, như cười với chính mình.
“Ba mươi năm đi buôn, lần đầu tôi gặp người từ chối tiền ứng. Thôi được. Mười hai hũ tương, hai mươi hũ nước chấm, giao trong hai mươi ngày. Cô nương mang thẳng lên lầu, thầy bếp muốn gặp người làm ra nó.”
“Tôi còn một món nữa,” Mai Ngọc nói. “Dưa cải muối kiểu nhà, giòn, chua dịu, ăn kèm thịt kho thì hết sảy. Ba mươi hũ, bà cứ nhận thử. Dở thì bà trả lại, tôi không tính tiền.”
“Cô nương bán hàng cũng khéo đấy.” Bà Hạnh đứng dậy, vuốt phẳng vạt áo gấm. “Túi này không ràng buộc gì, nhận hay không thì chuyện làm ăn vẫn thế. Dược liệu hỏng thì uổng, cô cầm về nấu canh cho bà cụ.”
Bà ra tới cửa thì dừng lại, quay đầu về phía Trọng Nghĩa, hạ giọng: “Anh Nghĩa, mấy lời đồn ngoài thành, tôi chưa tin cái nào cả.” Rồi bà bước lên chiếc xe ngựa giản dị, bánh xe lăn đi trên đường đất.
Mai Ngọc cầm chiếc túi gấm lên. Mùi dược liệu thơm kín đáo, loại mùi mà nhà bếp nào cũng thèm. Trong lòng cô có chút hồi hộp rất lạ: lần đầu tiên từ lúc xuyên về, có người trả tiền cho một thứ cô làm ra, và còn chờ nó.
Hai người rời quán trà khi nắng đã nghiêng. Trọng Nghĩa đi bên cạnh, tay đút vạt áo, bước chậm hơn thường lệ để chân cô theo kịp.
“Cô mặc cả giỏi hơn tôi tưởng,” anh nói.
“Tôi từng làm nghề dạy người ta thèm ăn.”
“Nghề ấy ở đây không có.”
“Vậy tôi là người đầu tiên.” Cô liếc anh. “Anh cũng chẳng phải thợ mộc bình thường. Bà Hạnh nói chuyện với anh như hai người từng gặp. Ông quản gia lúc nãy cũng thế.”
Trọng Nghĩa không dừng bước. Qua một đoạn rặng tre, anh mới đáp, giọng thấp: “Tôi nợ cô một câu trả lời. Tối nay, sau bữa cơm. Cô đừng nói với bác Thơm là tôi sang.”
“Sang để làm gì?”
“Bào thử cái kệ tre cô cần,” anh nói. “Có tiếng bào thì người ta không nghe thấy mình nói chuyện gì.”