ĐĐọc Truyện
Hệ Thống Nông Trại Mở Cửa Cho Anh

Chương 4: Cửa Hầm

Ban ngày của thế giới này có một quy luật mà tôi chỉ nhận ra sau khi đi được năm phút. Lũ dị biến thể không biến mất khi mặt trời lên. Chúng chui vào chỗ tối. Dưới gầm cầu bắc qua con rạch, tôi đếm được hơn chục bóng người ngồi xổm sát nhau, đầu cúi gằm, bả vai thỉnh thoảng giật nhẹ như đàn chó ngủ mơ thấy mồi. Tôi bám bờ kè, đi thật chậm, từng bước đặt xuống như đặt trứng.

Tôi đã dùng cách mà hệ thống gợi ý từ tối qua. Hành lá giã nát trộn với đất Nông Trại, xoa lên cổ, lên áo, lên cả mái tóc. Mùi hăng nồng làm tôi chảy nước mắt, nhưng bọn chúng không nhúc nhích khi tôi đi qua. Nhà nông có câu: đuổi sâu bằng mùi, đuổi chuột bằng tiếng. Chưa ngờ có ngày mình đem ra dùng với những thứ này.

Viện Sinh học Ứng dụng hiện ra sau hàng bạch đàn khô héo. Một tòa nhà xám năm tầng, cửa kính vỡ nhiều chỗ, biển tên bị ai đó bôi nguệch ngoạc một vệt đỏ. Sân trước có năm sáu bóng người đứng quay mặt vào tường, đung đưa nhè nhẹ, không phát ra tiếng nào. Tôi vòng ra phía sau, trườn dọc mương thoát nước, đến khi chạm tới bậc thang bê tông dẫn xuống khu máy phát điện. Cuối cầu thang là một cánh cửa thép sơn xám, bên trên gắn camera nhỏ, bên cạnh là bảng quét tay và một cái loa.

Tôi nhớ đã thấy cánh cửa này một lần, vào buổi chiều giáo sư Diệp dẫn tôi đi xem hệ thống tưới của khu thí nghiệm. Hôm đó ông dừng lại trước nó, nói: “Dưới này là chỗ cất giữ những thứ không được phép mất.” Rồi ông bước đi, không giải thích gì thêm.

Tôi giơ hai tay lên trước camera. Đèn đỏ nhỏ xíu của nó chớp một nhịp. Rất lâu sau, cái loa mới rè lên.

“Đứng yên. Đừng chạm vào cửa.”

Là giọng phụ nữ, khàn vì thiếu ngủ, nhưng từng chữ đều rõ ràng, giống giọng của người đã tập nói chuyện qua loa suốt nhiều giờ.

“Tôi là Tạ Mẫn Đồ, nghiên cứu sinh khoa đất, học với giáo sư Diệp,” tôi nói, cố giữ giọng đều. “Tôi tìm giáo sư.”

Im lặng. Rồi: “Ông ấy không có ở đây.”

“Vậy cho tôi vào trú một lúc. Tôi chưa bị cắn, chưa hít khói đen gì cả.”

“Thẻ sinh viên. Giơ lên.”

Tôi rút thẻ ra, chìa trước ống kính. Một tiếng thở dài rất nhỏ vang qua loa.

“Thẻ có thể nhặt được từ người chết. Trả lời tôi một câu. Mùa thu năm ngoái, Lô 7 trồng gì?”

Tôi khựng lại. Câu hỏi không có trong bất kỳ giáo trình nào. “Không trồng gì cả. Đất để trống. Mỗi tuần xới một lần, lấy mẫu ba mươi tám điểm, tưới bằng nước mưa đã lọc. Giáo sư bảo có những thứ phải để yên mới lớn được.”

Lần này im lặng lâu hơn. Tôi nghe thấy tiếng ghế kéo, tiếng bước chân chạy.

“Đặt bàn tay phải lên tấm kim loại bên cạnh cửa,” giọng nói tiếp tục, nhanh hơn. “Đặt phẳng, đừng nhấc lên.”

Tôi áp tay lên tấm quét. Mặt kim loại lạnh buốt, rồi từ từ ấm lên như có dòng điện nhỏ chảy ngầm trong đó. Đúng khoảnh khắc ấy, một dòng chữ hiện trước mắt tôi.

[Hệ thống: Cổng phụ ghi nhận Chủ nhân. Yêu cầu khóa thứ hai chưa thỏa mãn. Khóa tạm thời cho phép tiếp cận hành lang ngoài.] Đèn trên bảng quét chuyển sang xanh lục, một thứ xanh lục nhạt mà tôi đã quá quen từ tối qua. Cái loa phát ra một tiếng nghẹn.

“Nó sáng màu đó,” người phụ nữ nói, giọng lạc đi. “Ba năm nay nó chưa bao giờ sáng màu đó với ai ngoài…”

Câu nói bị cắt ngang bởi một tiếng động ở phía trên đầu tôi, trên miệng cầu thang. Tiếng móng cào lên bê tông, chậm và lê lết.

Tôi quay lại. Nó đứng ở đầu bậc thang, bóng nó đổ dài xuống chân tôi. Chính là con quái vật tối qua, cao lêu nghêu, đầu nghiêng một góc quái dị. Nửa mặt nó trắng bệch như cháy nắng, lớp da bị đất làm bong nham nhở, vết rách ngang mặt phập phồng hít thở. Nó không có mắt, nhưng tôi biết nó đã ngửi thấy tôi.

“Cô mở cửa đi,” tôi nói khẽ.

“Nó có một mình không?”

“Tôi không biết. Mở cửa.”

“Nếu anh đưa theo cả bầy xuống đây, tôi sẽ không còn chỗ nào để chạy nữa.” Giọng cô vẫn run, nhưng không phải vì sợ chết. Một người giữ cửa lâu ngày sẽ có thứ nỗi sợ như vậy: sợ mình là người làm hỏng tất cả.

Con quái vật phóng xuống. Tôi thọc tay vào túi, rút một nắm đất tươi hất thẳng vào khoảng không trước mặt nó. Nó khựng lại giữa chừng, hơi trắng bốc lên từ hàm và cổ, tiếng rú rít qua kẽ răng. Nhưng lần này nó không lùi. Nó nhào vào tôi, vai đập mạnh vào ngực, ép tôi ngã dúi vào cánh cửa thép. Cái móng tay dài như móc câu vạch một đường rát bỏng qua tay áo.

Tôi đẩy đầu nó ra, nắm đất thứ hai nhét vào khe miệng. Nó hộc lên, giật lùi, và tôi nghe tiếng cốc, cốc, cốc vọng ra từ chính cánh cửa sau lưng. Tiếng gõ ấy không do nó gây ra, mà do ổ khóa đang rút then.

“Vào!” Cô gái hét. “Nhanh!”

Cánh cửa mở hé vừa đủ cho một người lách qua. Tôi lăn vào, đạp chân vào cánh thép, và cô gái bên trong dùng cả người ép cửa đóng lại. Then khóa đóng sầm. Bên ngoài, thân hình con quái vật đập vào cửa hai lần, ba lần, rồi những tiếng gãi chậm rãi trượt xuống.

Tôi nằm ngửa trên sàn buồng đệm, thở hồng hộc. Một đầu gậy điện lạnh toát ấn vào cổ họng tôi.

Cô gái đứng trên đầu tôi, đeo khẩu trang kín mũi, kính che mặt trong suốt, mái tóc buộc gọn bằng dây thun đen. Dưới lớp kính, đôi mắt cô đỏ hoe vì thức khuya, nhưng ánh nhìn thì sắc như dao mổ.

“Tay anh bị trầy,” cô nói. “Có chảy máu không?”

“Không… chỉ rách áo thôi.”

“Tốt.” Gậy điện không hề nhích đi. “Giờ thì cởi hết quần áo ra, bỏ vào cái túi nhựa kia. Buồng khử trùng ở sau tấm màn xanh. Tôi sẽ quay lưng đi, nhưng nếu anh bước ra khỏi buồng khi chưa hết sáu phút, tôi sẽ không hỏi lại lần thứ hai đâu.”

Tôi nhìn cô, rồi nhìn cái gậy. Tôi chưa bao giờ nghĩ cái ơn cứu mạng đầu tiên trong tận thế lại đi kèm với một hướng dẫn vệ sinh chi tiết đến thế.

“Cảm ơn cô đã mở cửa,” tôi nói.

“Đừng cảm ơn tôi.” Cô đáp, và lần đầu tiên gậy điện hạ xuống mấy phân. “Tôi chưa biết có nên hối hận hay không.”