ĐĐọc Truyện
Hệ Thống Nông Trại Mở Cửa Cho Anh

Chương 3: Đất Sạch

Nắm đất tươi bám lên mặt con quái vật và bắt đầu sủi bọt. Không có lửa, cũng không có khói đen, chỉ có một làn hơi trắng mỏng bốc lên cùng tiếng xèo xèo nhỏ, giống tiếng nước nhỏ vào chảo nóng. Lớp da xám nhầy quanh vết rách ngang mặt nó co rúm lại, rồi bong ra từng mảng khô như vỏ hành.

Nó rú lên một tiếng nghe như sắt cọ vào sắt, loạng choạng lùi vào tường, hai bàn tay cào cấu lên khuôn mặt không có mắt. Tôi không đứng lại xem kết quả. Tôi lách qua khoảng hở giữa nó và khung cửa, đạp tung cánh cổng sắt thấp của sân sau rồi chạy dọc con đường ven sông, nơi mỗi sáng các bác nông dân vẫn đẩy xe rau vào trường.

Đêm nay con đường không còn xe rau. Chỉ có một chiếc xe ba bánh lật nghiêng, vài cái sọt tre vỡ và mùi cải thối nồng lên trong gió. Tôi chạy cho đến khi lồng ngực rát như bị xát muối, rồi nép vào một trạm bơm thủy lợi cũ, xây bằng gạch đỏ, mái tôn gỉ loang lổ. Cửa sắt của trạm hé mở. Tôi chui vào, kéo cánh cửa lại, tựa lưng vào bức tường lạnh ngắt và nghe tim mình đập thình thịch trong hai tai.

Không ai đuổi theo. Tiếng rú của con quái vật xa dần, rồi tắt hẳn.

[Hệ thống: Đất Nông Trại chứa quần thể vi sinh vật bản địa, không tương thích với bào tử Z-Omega. Hiệu lực ngoài không gian: khoảng ba giờ kể từ lúc rút ra.] Tôi đọc dòng chữ đó hai lần. Bảy năm học khoa học đất đủ để tôi hiểu nó nói gì. Trong đất tốt, không loài nào sống một mình. Nấm đối kháng, vi khuẩn đối kháng cạnh tranh thức ăn, tiết chất ức chế, quấn lấy sợi nấm gây bệnh mà bóp nghẹt. Người ta trộn nấm Trichoderma vào đất để diệt nấm hại rễ từ mấy chục năm nay. Nếu Z-Omega thật sự sống bằng bào tử, và nếu quần thể trong đất của Nông Trại khắc nó đến mức đó, thì nắm đất tôi vừa hất ra không chỉ là đất.

Tôi nhìn xuống tay. Qua ô thông gió, ánh trăng rọi vào những vệt đất còn sót trong kẽ ngón, vẫn ẩm, vẫn thơm mùi mưa đầu mùa.

Bụng tôi réo lên, nhắc rằng từ trưa đến giờ mình chưa ăn gì. Tôi ngồi xuống nền xi măng, áp lòng bàn tay lên mặt sàn, nghĩ hai chữ mà nãy giờ vẫn còn lạ lẫm.

Mở cửa.

Một đường sáng xanh nhạt mở ra ngay trước mặt, mảnh như sợi chỉ, rồi giãn thành một khung dọc cao hơn đầu người. Tôi bước qua. Mùi đất ẩm đón lấy tôi, và ở rìa cánh đồng, đúng chỗ ánh sáng vừa tan đi, đứng lù lù một cánh cổng tre cũ, hai trụ buộc dây mây, giống đến lạ cái cổng nhà ngoại tôi ở quê. Hóa ra đó là cách hệ thống chọn để làm lối ra vào. Cổng tre không có hàng rào hai bên, cứ đứng giữa đồng như thể đã đứng đó cả trăm năm.

Tôi đi một vòng kiểm tra. Mấy luống tôi gieo lúc nãy đã nhú mầm, những cái lá non xanh mơn mởn chen nhau trên nền đất nâu. Ở cuối đồng, sau một túp lều rơm mà trước đó tôi chưa kịp để ý, có ba luống rau lớn hơn hẳn: cải thìa, xà lách, hành lá, đều đã đủ tuổi thu hoạch.

[Hệ thống: Đây là luống mẫu khởi tạo, dành cho Chủ nhân dùng trong giai đoạn đầu. Nguồn nước: suối nhỏ phía đông, không cạn.] Tôi hái một cây cải thìa, rửa qua nước suối rồi nhai sống. Lá giòn, hơi ngọt, thân mọng nước, thứ rau ngon nhất tôi từng ăn trong đời. Nước mắt tự dưng trào ra. Không phải vì mùi vị. Chỉ là cách đây vài tiếng, một nam sinh ngoài sân trường còn bị lôi xuống bãi cỏ, còn tôi đang ngồi nhai rau giữa đồng, an toàn và lành lặn. Sự bất công của chuyện này khiến tôi nghẹn họng.

Tôi ăn cho hết cơn đói, rửa mặt, rồi nằm xuống lớp rơm trong lều. Mười lần thời gian có nghĩa là một giấc ngủ hai mươi tiếng ở đây chỉ bằng hai tiếng ngoài kia, đủ để bù lại một đêm không chợp mắt. Tôi nằm nghĩ đến ba mẹ. Thôn Đào Khê cách thành phố bảy mươi cây số về phía tây, nhà tôi ở cuối thôn, có tám mẫu ruộng lúa, một vườn quýt và cái cổng gỗ mà mẹ tôi chưa từng cài then, dù tôi đã nhắc bao nhiêu lần. Mẹ bảo cổng khóa thì con về gõ cửa, mà nhà mình thì chẳng ai cho con gõ cửa cả. Nếu Z-Omega đã đến Thành Đô thì làng tôi đang ra sao? Tôi không có điện thoại bắt sóng, không có một ai để hỏi.

[Hệ thống: Chủ nhân, nhịp tim cao hơn bình thường. Đề nghị nghỉ ngơi.] “Tôi đang nghỉ đây,” tôi lẩm bẩm.

Không biết tôi ngủ thật hay chỉ nhắm mắt. Khi mở mắt ra, ánh sáng nhân tạo trên trời vẫn dịu như cũ, và một dòng chữ mới đang chờ tôi.

[Hệ thống: Phát hiện cổng phụ của Kho Giống tại tọa độ cách vị trí hiện tại sáu trăm mét về phía tây: tầng hầm Viện Sinh học Ứng dụng. Xác thực sinh trắc có thể cấp quyền Mức 2.] Viện Sinh học Ứng dụng. Tôi ngồi bật dậy. Đó là tòa nhà xám nằm sau khu nhà kính, nơi giáo sư Diệp Hoài Chân làm việc, người thầy duy nhất cho phép tôi chạm vào mảnh thí nghiệm hình chữ L mà trong trường ai cũng gọi là Lô 7. Suốt hai năm, mỗi tuần tôi xới đất ở đó một lần, lấy mẫu ở ba mươi tám điểm, tưới bằng nước mưa đã lọc, không trồng gì cả. Tôi từng hỏi giáo sư vì sao phải để đất trống, ông chỉ cười: “Có những thứ phải để yên mới lớn được.”

[Hệ thống: Chữ ký vi sinh trên tay Chủ nhân khớp với hồ sơ Lô 7. Xác nhận: Tạ Mẫn Đồ, người chăm đất thứ hai.] Tôi nhìn bàn tay mình rất lâu. Hai năm xới đất ấy, hóa ra tôi không chỉ lấy mẫu. Tôi đã được chọn từ lúc nào đó mà không hề biết.

Khi tôi bước qua cổng tre trở ra, ngoài kia mới trôi qua hơn hai tiếng. Qua ô thông gió của trạm bơm, bầu trời đã chuyển sang màu xám tro. Về phía đông, đúng hướng khu thực nghiệm của trường, một dải mây đen mỏng nằm yên giữa trời không gió, đứng im như một vết mực nhỏ trên giấy.

Tôi rút thêm một nắm đất mới, giấu vào túi áo, rồi đẩy cửa sắt bước ra ngoài.