ĐĐọc Truyện
Thám Tử Ma Giới

Chương 8: Người Gác Cầu Thang

Đêm hôm đó Hà để lại cho anh ba chữ trên gương: LÂM KHÔNG TIN. Lê Minh đọc xong, đứng thêm một lúc trong phòng tắm vắng, nghe tiếng vòi nước nhỏ giọt. Đại úy Lâm đã nghe lời khai của Khôi về cái bóng đèn và tiếng ho, và ông gạt đi bằng một câu: người sắp bị buộc tội nào cũng bỗng nhớ ra một kẻ lạ. Lê Minh không trách ông. Nếu là anh ngồi ở bàn đó, mười năm trước, anh cũng nói thế.

Anh không đủ sức quay về xám, nên ở lại Thanh Bình, ngồi trên bậc thang chiếu nghỉ giữa tầng ba và tầng bốn, nơi ánh đèn cảm ứng lúc sáng lúc tắt theo những chuyển động anh không nhìn thấy. Hai giờ sáng. Cả tòa nhà ngủ, chỉ có tiếng thang máy rền rĩ ở lõi tòa nhà, thỉnh thoảng một chiếc dừng lại không cần ai gọi.

“Cậu ngồi chắn đường rồi.”

Giọng đàn bà cất lên ngay bên tai, khàn và ráo hoảnh. Lê Minh quay lại. Bà ngồi ở bậc trên, lưng dựa tường, tay bà đang cầm hai chiếc que đan không có len, đan đều đều ra thứ gì đó chỉ bà thấy. Dưới chân bà có một chiếc radio bán dẫn cũ, lúc này đang rì rầm một bản tin đã hết hạn từ sáu năm trước. Bà Tư, bảy mươi tư tuổi, chết ở chính chiếc cầu thang này khi xách một túi rau từ chợ về, và từ đó chưa rời khỏi nó.

“Tôi nghe người ta nói có thám tử.” Bà nheo mắt nhìn anh. “Chết rồi mà còn làm việc. Cực.”

“Bà biết Trà My ở tầng năm?”

“Biết chứ. Con bé ngoan, hay chào tôi, mà tôi nghe chào không được, nó chào vào không khí.” Bà Tư thở dài. “Nó chết rồi thì có người lên dán tờ cho thuê, hỏi tôi có thấy gì không. Ai hỏi? Chẳng ai hỏi cả.”

Lê Minh rút cuốn sổ. “Tôi đang hỏi đây.”

Bà Tư đan thêm mấy mũi rồi mới nói, và anh nhận ra mình phải học cách nghe một nhân chứng ma. Bà đếm thời gian không bằng đồng hồ. Bà đếm bằng tiếng thang máy chạy, bằng lần đèn cảm ứng bật, bằng bản tin trên chiếc radio. Và bà thấy người sống theo cách khác hẳn. “Người sống nhìn từ chỗ tôi như hình vẽ bằng chì, cậu hiểu không? Biết cao hay thấp, béo hay gầy, áo màu gì. Mặt thì trắng ra. Chỉ khi người ta khóc to hay thét lên, mặt họ mới hiện, và hiện rõ như ảnh.”

“Đêm thứ Ba. Cứ kể những gì bà thấy, đừng cố nhớ tên.”

“Tám giờ hai mươi hay hơn một chút, có một người đàn bà đi thang máy lên tầng năm. Áo khoác xanh than, có chữ trắng ở ngực, cái áo của công ty quản lý, mấy người ở tầng trệt hay mặc. Tay xách một cái bình giữ nhiệt, loại có quai.” Bà Tư chỉ vào khoảng không, hình dung chiếc bình. “Tóc búi cao. Tôi ngửi thấy mùi gừng tươi, và mùi gì như kẹo the.”

Lê Minh ghi: áo khoác công ty. Bình giữ nhiệt. Phụ nữ. Cây bút khựng lại nửa giây khi anh nhớ cái cốc sứ sứt quai ở lớp bóng căn 502, và không có chiếc bình nào. Cô ấy không để ý đến nó, hay nó đã được mang đi trước khi cô nhắm mắt?

“Tám giờ năm mươi,” bà Tư nói tiếp, “một người đàn ông leo cầu thang bộ lên. Vai rộng, đội mũ lưỡi trai, đi giày nặng. Ổng ho khan. Ổng huýt sáo khe khẽ, một điệu ru con, tôi nghe quen mà không nhớ tên. Tới tầng năm ổng đứng một lúc. Có tiếng két két như người vặn thứ gì xoay tròn, rồi đèn cảm ứng tầng năm không bật lên nữa. Từ đó nó tối luôn.”

“Ông ta đã tháo bóng đèn,” Lê Minh nói.

“Tôi đâu có nhìn thấy cái bóng đèn. Tôi chỉ nghe.” Bà Tư bĩu môi, nhưng khóe mắt bà dịu lại. “Chín giờ mười tám, người đàn bà xuống. Cô ta xuống bằng thang máy, đứng trong đó ôm mặt bằng hai tay, khóc ghê lắm. Tôi muốn nhìn xem mặt thế nào mà cô ta che chặt thế, chẳng thấy gì. Tôi ngó thấy cái bình giữ nhiệt nằm trong túi vải, lúc xuống cô ta không xách tay nữa mà giấu nó đi.”

Anh gạch xuống trang giấy một đường dài, nối chiếc bình với người đàn bà và với căn 502. “Còn người đàn ông?”

“Chín giờ rưỡi, thằng nhóc nào đó gõ cửa rồi bỏ đi, mặt khóc rưng rức. Sau đó tôi ngủ gà.” Bà Tư không buồn tỏ ra xấu hổ. “Ma cũng cần ngủ, cậu ạ. Tôi tỉnh dậy thì ổng đã đi mất, chỉ thấy lờ mờ bóng ổng đi xuống nhanh quá, lúc đó mười một giờ kém hay mười một giờ gì đấy.”

Lê Minh đóng sổ. Cái nhìn của anh dừng ở khoảng không giữa hai tầng. Một người đàn bà mang trà, một người đàn ông mang ốc. Họ đến và đi lệch nhau gần nửa tiếng, nhưng cùng hướng tới một cánh cửa. Anh chưa dám nói với chính mình hai người ấy có biết nhau không.

“Bà còn nhớ gì về thằng bé nhà 402 không?”

“Bảo?” Mặt bà Tư sáng lên, đúng như cách mặt Trà My sáng lên hôm nọ. “Thằng đó thấy tôi. Nó là đứa duy nhất trong tòa nhà nói chuyện được với bọn ma chúng tôi. Mấy tuần nay nó chuyện trò với tôi suốt, hỏi tôi bao nhiêu thứ, hỏi tôi làm sao biết một người là tốt.” Bà vặn mấy ngón tay quanh que đan. “Rồi nó biến mất. Tôi hỏi ông Sáu bảo vệ, ông ấy lờ đi. Nhưng cậu để ý này: ông Sáu đêm nào cũng xách cặp lồng cơm lên tầng thượng, mà ổng đâu có ăn ở trên đó. Hai cái muỗng, tôi nghe tiếng lách cách.”

Lê Minh đứng dậy ngay. Cơ thể anh vẫn nhạt, nhưng anh cảm thấy một mạch dồn lên từ đâu đó như lúc xưa khi một đầu mối bất ngờ bật sáng.

“Cảm ơn bà.”

“Tôi chưa nói hết.” Bà Tư nhìn anh với một thứ nghiêm nghị không hợp với dáng nhỏ bé. “Thằng bé còn sống, tôi nghĩ vậy, vì chưa có ai khóc cho nó. Nhưng đừng để nó nằm trên đó lâu. Gió trên mái thổi dữ, mà tụi trẻ con thì dễ bệnh.”

Anh trượt lên các tầng mà không đếm bậc, vì lần này anh không cần con số. Tầng mười, rồi cánh cửa sắt dẫn ra sân thượng, khóa hờ bằng một sợi xích thả lỏng. Anh đi xuyên qua nó như qua một lớp sương.

Gió ập vào mặt. Sân thượng trải rộng dưới trời không sao, hai bồn nước tròn nhô lên như hai chiếc nồi khổng lồ, và ở phía xa là căn phòng bê tông thấp có cửa kim loại ngân nga tiếng thang máy chạy, nơi người thợ máy ra vào. Cách đó một quãng, sát bồn nước thứ hai, nằm một cái kho nhỏ cũ, mái tôn, cánh cửa gỗ khóa bằng một ổ khóa đồng lớn và sáng. Dưới khe cửa có một vệt ánh sáng vàng như ánh đèn pin che vải.

Lê Minh bước qua cánh cửa gỗ.

Bên trong có một tấm nệm cũ trải sát tường, mấy cuốn truyện tranh, chai nước, hai cái muỗng trong cặp lồng nhôm, và một cậu bé gầy, tóc ngố, ngồi xếp bằng giữa nệm, đang viết gì đó vào cuốn vở bìa xanh bằng cây bút đã cùn. Cậu bé ngẩng lên. Không giật mình, không hét. Mắt cậu nhìn thẳng vào chính xác nơi anh đứng.

“Chú đứng ở đó nãy giờ à?” Cậu hỏi, giọng khàn vì nhịn nói quá lâu.