ĐĐọc Truyện
Thám Tử Ma Giới

Chương 4: Con Ốc Sáng Màu

Cánh cửa căn 502 là loại cửa gỗ ép sơn nâu, đã bong ở mép dưới, giống hàng chục cánh cửa khác dọc hành lang. Lê Minh quỳ một gối trước nó, sát đến mức nếu còn thở thì hơi thở của anh đã làm mờ lớp sơn. Anh làm đúng điều anh vẫn làm suốt hai mươi năm ngoài kia: nhìn từng thứ một, không vội kết luận.

Tấm sắt đỡ xích bắt vào khung cửa bằng ba con ốc. Hai con ở trên là ốc đồng cũ, đầu đã xỉn và rỉ thành quầng xanh. Con thứ ba ở dưới cùng là ốc inox, đầu còn sắc cạnh, dài hơn hai con kia chừng nửa đốt tay, vặn sâu đến mức gỗ khung quanh lỗ vẫn còn lốm đốm mùn trắng mịn. Một người vặn ốc lúc ban ngày, thong thả, sẽ không để lại mùn như thế. Người vặn nó đang vội và đang làm trong bóng tối.

Anh dời mắt sang ổ khóa. Quanh miệng ổ có những vết xước rất mảnh, chạy dọc theo một hướng, chỉ thấy khi ánh đèn hành lang xiên qua. Xích cửa đã bị cắt, hai đầu mắt xích bị kìm cộng lực bấm bẹp, một nửa còn treo trên cánh cửa. Nửa kia nằm ở đâu đó trong kho vật chứng, nếu người ta còn giữ. Cái núm tròn ở đầu xích có một rãnh bóng rất nhỏ, như chỗ ngón tay cái người ta vuốt mòn.

Khe hở giữa cánh cửa và khung ở phía bản lề rộng hơn bình thường, đủ luồn qua một ngón tay út. Tòa nhà này hai mươi tuổi, và tầng nào cũng có cánh cửa xệ đi theo cách của nó.

Lê Minh đưa tay định nhón thử vật gì đó trong rãnh xích. Ngón tay anh đi xuyên qua kim loại như đi xuyên qua khói. Anh rút tay về và ngồi lại một lúc. Vậy ra đó là lý do người mặc vest bảo cần người đứng giữa: người đứng giữa nhìn được, mà không cầm nổi một con ốc.

“Anh thấy gì thế?” Trà My đứng cạnh, thận trọng, không dám chen vào.

“Con ốc dưới cùng. Em nói chưa ai sửa tấm đỡ này?”

“Chưa. Chắc chắn là chưa.”

“Vậy thì giữa tối thứ Ba và sáng thứ Tư, có người đã mang tới một con ốc dài hơn và vặn nó vào.” Anh nói chậm, để chính mình nghe cho rõ. “Chỉ vì người ta muốn tấm sắt này chịu được lực kéo của sợi xích. Muốn có lực kéo thì phải có người kéo. Và người cần cửa cài xích từ phía trong, trong khi chính anh ta đang ở phía ngoài.”

Trà My không nói gì. Cô nhìn cánh cửa như nhìn một người quen đã đổi mặt.

Có tiếng chân đi lên cầu thang bộ. Hai người, một nặng một nhẹ, và giữa các bước chân có tiếng đếm thì thầm rất khẽ. Lê Minh biết giọng đếm đó trước khi nghe rõ con số. Anh đứng thẳng dậy quá nhanh, đến nỗi lớp bóng sau lưng gợn sóng.

“Chín mươi sáu, chín mươi bảy, chín mươi tám.” Phan Thu Hà bước lên bậc cuối cùng của tầng năm và khẽ gật đầu như vừa xác nhận một con số quen thuộc. “Tầng năm, chín mươi tám bậc. Chú Sáu, cầu thang này bao lâu rồi không có đèn?”

Cô nhỏ hơn trong trí nhớ của anh, hoặc vì anh đã quen nhìn cô từ bên trên khi hai thầy trò còn đi chung một chiếc xe. Tóc cô cắt ngắn tới vai, áo khoác đen, và trên cổ tay là chiếc đồng hồ rẻ tiền anh tặng hôm cô nhận quyết định vào ngành. Mắt cô sưng, kiểu sưng của người không ngủ vì khóc chứ không phải vì thức. Lê Minh hiểu ngay rằng ngoài kia người ta đã báo cho cô tin về anh, và cô vẫn đến đi làm ngày thứ Bảy vì ở nhà thì cô không chịu nổi.

Anh đứng im, bàn tay hơi nâng lên trong khoảng không, và không có ai nhìn thấy.

Người đàn ông đi cùng cô, bảo vệ tòa nhà, tên Sáu theo bảng tên, chống tay vào lưng áo gió xanh đậm. Ông gầy, đi hơi khập khiễng. “Đèn cảm ứng tầng này hỏng cả tuần. Tôi báo cho ban quản lý rồi.”

“Tôi ghi nhận. Giờ nói chuyện cậu bé nhà 402.” Hà mở sổ. “Ba người ba lời: cô giáo nói lần cuối thằng bé đi học là thứ Sáu, hàng xóm bảo thứ Bảy còn thấy nó ở sảnh, còn chú thì nói thứ Bảy hay chủ nhật. Chú là người nhìn thấy nó cuối cùng, chú nhớ rõ hơn đi.”

“Tôi… hay quên,” ông Sáu nói, mắt nhìn xuống đôi giày. “Bà nội nó nằm viện từ hôm gãy xương, nhà chỉ còn thằng bé, nó quen đi chơi một mình. Tôi tưởng nó sang ở nhờ bạn.”

Lê Minh nhìn bàn tay ông bảo vệ. Ngón cái và ngón trỏ cứ xoắn mép áo, đều đặn, như người lần chuỗi hạt. Anh ghi nhận mà không dám tin cũng không dám bỏ.

Hà quay sang cánh cửa 502. “Đây là nhà cô gái mất hồi đầu tháng?”

“Cô bé hiền lắm, cô cảnh sát à.” Ông Sáu nuốt khan. “Sáng hôm đó tôi với chú Huân thợ máy lên phá cửa. Xích cài từ bên trong, chú Huân phải lấy kìm cộng lực cắt. Cảnh tượng… tôi không muốn nhớ.”

Hà tiến lại gần cánh cửa, và Lê Minh thấy cô làm đúng điều anh dạy, mà anh không tin mình còn được thấy. Cô không đưa tay chạm. Cô lùi nửa bước, nghiêng đầu, để đèn hành lang xiên vào tấm đỡ xích. Mắt cô dừng ở con ốc dưới cùng. Cô đưa điện thoại lên chụp hai tấm, một gần, một xa.

“Con ốc này mới.”

“Chắc ông Thạnh cho thợ sửa,” ông Sáu nói quá nhanh. “Chủ nhà ấy mà.”

“Trước hay sau khi cô ấy mất?”

“Tôi… không biết.”

Hà không hỏi thêm. Cô gập sổ và gật đầu cảm ơn, nhưng Lê Minh nhìn thấy khóe môi cô mím lại, như lúc cô ghim một chi tiết vào nơi cô sẽ quay lại. Họ đi xuống. Tiếng đếm lại nhỏ dần theo từng bậc.

Anh chạy theo, hay nói đúng hơn là anh trượt theo, qua tầng bốn có cánh cửa 402 đóng kín, rồi đứng ở khoảng chiếu nghỉ có ô cửa kính nhỏ. Hà dừng ở nửa cầu thang phía dưới để nghe điện thoại. Lê Minh áp bàn tay lên mặt kính. Anh thở ra, cảm giác đầu tiên là lạnh, rồi như có ai rút thứ gì đó từ trong lồng ngực anh qua đầu ngón tay. Trên mặt kính, một lớp hơi nước mỏng hiện ra quanh bàn tay anh. Anh đưa ngón trỏ ra, vạch một nét, hai nét, rồi nét ngang.

Chữ H. Trước khi anh kịp viết chữ tiếp theo, kính, hành lang và cầu thang tan thành vệt xám.

Khi tỉnh lại anh đang ngồi trên chiếc ghế gỗ trong văn phòng xám, đầu nặng như vừa bị nhấn xuống nước. Bàn tay đặt trên mặt bàn nhạt đến mức nhìn xuyên qua được vân gỗ. Người mặc vest cũ không ngẩng lên khỏi hồ sơ.

“Mỗi lần chạm vào thế giới của người sống, anh trả bằng độ rõ của chính anh. Một chữ cái thì rẻ. Mười chữ thì anh sẽ không đứng dậy nổi trong một ngày.”

“Còn Trà My?” Lê Minh hỏi.

Lúc ấy ông ta mới nhìn lên, và đẩy sang một tờ giấy nhỏ, mép đã cong. Trên đó không có chữ. Chỉ có một hàng ba mươi chấm tròn, mười tám chấm đầu đã tối, mười hai chấm sau còn sáng.

“Linh hồn nào ở lại mà không ai trả lời được câu hỏi của nó thì nhạt dần. Ngày thứ ba mươi, nó tan, không còn là ai cả. Hôm nay là ngày thứ mười tám.”

Lê Minh nhìn mười hai chấm sáng. Anh đứng dậy, và lần này bàn tay anh hiện ra đủ rõ để vịn vào mép bàn.