Chương 3: Những Mảnh Vỡ Của Một Ngày
Tập hồ sơ người mặc vest cũ đưa cho Lê Minh có hai phần dính nhau bằng một chiếc kẹp giấy đã gỉ. Phần trên là vụ mất tích của cậu bé Đoàn Gia Bảo, mười hai tuổi, ở căn 402 chung cư Thanh Bình. Phần dưới, mà anh chỉ lật tới khi đã đứng trong căn hộ này, là biên bản kết luận cái chết của Trà My ở căn 502, cùng tòa nhà, ngay trên đầu căn của cậu bé. Lúc anh hỏi hai việc có liên quan gì nhau không, người mặc vest chỉ nhún vai: “Tôi không nói chúng liên quan. Tôi chỉ nói chúng nằm chung một cái kẹp.”
Căn hộ hiện ra với anh thành hai lớp chồng lên nhau. Lớp thật thì trống trải: nệm bị lột ga, nền gạch còn những vệt kéo của thùng giấy, một tờ “Cho thuê” dán lệch ở khung cửa. Lớp bóng, thứ chỉ người đã chết mới thấy, lại ấm lạ lùng, vì nó là căn phòng theo cách Trà My nhớ về nó lúc cuối cùng: ngọn đèn bàn vàng nhạt, chiếc laptop mở nắp, cốc sứ sứt quai, một mảnh giấy ghi chú màu vàng dán ở chân đèn với mấy dòng chữ nhỏ, dòng chót là “nồi áp suất cho mẹ”. Thứ gì cô không để ý thì lớp bóng không giữ. Lê Minh nhận ra điều đó trong năm phút đầu và ghi vào sổ như ghi một quy luật của phòng thí nghiệm: ở đây, trí nhớ của người chết là chiếc máy ảnh duy nhất, và nó chỉ chụp những gì ống kính từng hướng tới.
Trà My ngồi bó gối trên nền nhà, ngay chỗ chiếc sofa của lớp bóng. Cô nhạt hơn hôm qua một chút. Viền vai cô mờ như nét chì bị ngón tay quẹt qua.
“Anh muốn nghe từ buổi sáng,” Lê Minh nói. “Mảnh nào còn thì kể, mảnh nào mất thì cứ nói là mất. Em không cần ghép sẵn cho anh.”
“Sáng thứ Ba, em dậy lúc sáu rưỡi. Em chuyển tiền nhà cho ông Thạnh lúc bảy giờ mười hai phút.”
“Em nhớ chính xác thế?”
“Em chưa bao giờ trễ tiền nhà. Hôm đó em còn nhẩm: đóng xong tháng sau thì cuối tuần yên tâm về quê.” Cô cười khẽ rồi nụ cười tắt ngay. “Mẹ dặn mua cho mẹ cái nồi áp suất. Em đã chọn xong trong giỏ hàng.”
Lê Minh gạch một dòng trong sổ. Người ta không chọn nồi cho mẹ, đóng tiền nhà tháng sau rồi mới đi chết. Dòng đó chưa đủ lật kết luận của người khác, nhưng nó là cái đinh đầu tiên.
“Đến chỗ làm.”
“Em làm kế toán trợ lý ở Ban Quản Lý tầng trệt, mười bốn tháng rồi. Tuần đó em phải đối chiếu quỹ bảo trì để báo cáo trong buổi họp cư dân.” Giọng cô chậm lại. “Có khoản hai thang máy. Gần hai tỷ, trả từ hai năm trước cho hạng mục thay mới bộ điều khiển. Ba giờ chiều em lên phòng máy trên sân thượng đưa phiếu ký cho người thợ, người đó không có ở đấy. Em đứng chờ, em đọc cái bảng tên đóng ở tủ điều khiển. Năm sản xuất hai nghìn không trăm lẻ tám.”
“Còn hồ sơ nói đã thay mới.”
“Vâng. Em chụp ảnh bảng tên, chụp cả dây nối, rồi về in hóa đơn bỏ vào cặp hồ sơ màu xanh. Em mang nó về nhà.” Cô ngừng. “Em định nói với một người trước khi nói với ai khác.”
“Ai?”
Trà My mở miệng rồi lại khép. Hai bàn tay cô siết vào nhau. “Em không nhớ. Em nhớ mình đã nghĩ người đó sẽ biết cách, nhưng tên thì như bị ai lấy kéo cắt đi. Từ chiều trở đi, ký ức của em giống tấm vải bị mối ăn.”
Lê Minh không giục. Anh đã gặp kiểu trí nhớ này ở những nhân chứng bị sốc nặng, và hiểu rằng ép chỉ làm nó vụn thêm. Anh hỏi sang thứ khác. Buổi tối cô có ăn gì không, có ai đến không, cửa khóa thế nào.
“Em nhớ trà,” cô nói sau một lúc. “Trà gừng mật ong, nóng, hơi đắng ở cuối lưỡi. Em nhớ mình buồn ngủ rất nhanh, lạ lắm, vì em là người ngủ muộn. Em nhớ một mùi nữa.” Cô nhắm mắt. “Lạnh, ngọt, hơi cay. Như kẹo bạc hà.”
Anh ghi: mùi bạc hà. Một thứ mùi quá phổ biến để làm nên bất cứ điều gì, và anh cẩn thận không để nó thành điều gì.
“Cánh cửa,” anh nói. “Trong biên bản ghi cửa khóa chốt và cài cả xích. Em có hay cài xích không?”
“Chưa bao giờ.” Cô ngẩng lên, ngạc nhiên thực sự. “Ốc ở tấm đỡ xích lỏng từ hôm em dọn vào. Hễ kéo xích là cả tấm sắt rung lên, em sợ nó bật ra nên không dám đụng. Em xin ông Thạnh sửa ba lần, ông hứa mà chưa sửa.”
Lê Minh đặt bút xuống. Trong lớp bóng, sợi xích treo thõng bên khung cửa như một chuỗi hạt bị bỏ quên, tấm đỡ thiếu một con ốc. Anh chưa đứng dậy, vì còn một câu hỏi anh để dành.
“Trà My, trước khi chết em có nói chuyện với đứa trẻ nào ở tòa nhà này không?”
Cô sững lại, rồi mặt cô sáng lên theo một cách làm anh khó chịu. “Bảo. Thằng bé 402. Tối thứ Ba và thứ Năm nó lên em kèm toán, mẹ nó mất, bố đi tàu, chỉ có bà nội.” Cô nói vội, như sợ ký ức này cũng sẽ biến mất. “Nó nhìn thấy em, anh biết không. Cái đêm sau khi em mất, nó đứng ngoài hành lang, nhìn thẳng vào em và nói: chị My đừng sợ, em biết ai rồi.”
“Nó nói tên không?”
“Không. Em hỏi, nó bảo nói ra thì chị sẽ giận người ta, mà thám tử không được kết tội khi chưa đủ chứng cứ.” Cô gần như bật cười, nước mắt thì đã rơi. “Nó đọc truyện trinh thám. Nó bảo để nó đi lấy chứng cứ rồi quay lại, và nó không quay lại nữa.”
Lê Minh nhìn tập hồ sơ trên đầu gối. Trang mô tả vụ mất tích không có thời điểm phát hiện, và lúc này anh bắt đầu hiểu vì sao người ta để thiếu dòng đó.
“Bảo mất tích rồi,” anh nói thật. “Hồ sơ ghi người này bảo chủ nhật tuần trước, người kia bảo thứ Bảy, không ai nói được chắc.”
Trà My đứng bật dậy, và vì cô nhẹ nên chuyển động đó làm cả lớp bóng gợn lên. “Anh tìm nó trước đi. Em chết rồi, em chờ được. Nó mới mười hai tuổi.”
“Anh sẽ tìm cả hai việc. Nhưng anh hứa với em: Bảo trước.”
Anh đứng dậy, đi tới cánh cửa. Trong lớp bóng, tấm đỡ xích thiếu ốc, chiếc xích buông lơi. Anh bước tới đưa mắt sang lớp thật, và ở chính chỗ đáng lẽ trống lỗ ấy, một con ốc inox sáng loáng nằm yên, mới như vừa vặn xong sáng nay.