ĐĐọc Truyện
Bạch Xà Linh Hồn

Chương 19: Điều Ông Lăng Giấu

Huyền Mãng là người đầu tiên nhận ra bóng áo xám.

Hắn đang nằm nghiêng bên đống lửa tàn, nửa tỉnh nửa mê. Nhưng khi tu sĩ cất tiếng, hai con ngươi dọc co lại, và hắn chống tay phải ngồi bật dậy nhanh đến mức Trần Mộc, đang khuấy nồi cháo trên bếp mới nhóm, phải giơ muôi ra chắn.

“Ngươi,” Huyền Mãng nói. Giọng khàn nhưng không còn ốm yếu. “Ta nhớ cái dáng đứng đó.”

“Phải.” Lăng Vân bước vào hang, đặt gậy trúc xuống, không né ánh mắt nào. “Ta đã đứng ở rìa rừng thông đêm đó.”

Nàng ngồi cạnh Huyền Mãng, mặt trắng đi. Trong trí nhớ vừa trở về, có một bóng áo xám bước một bước ra khỏi cây rồi dừng, mãi mãi dừng, như bị khóa chặt trong khoảnh khắc ấy. Nàng nhìn người đàn ông đã dạy nàng chớp mắt, đã bắt nàng đọc ba cuộn giấy, đã gửi nàng đến bậc đá nhà thầy thuốc.

“Ông nói ông thấy một phần từ xa,” nàng nói chậm. “Ông nói ông không can thiệp kịp.”

“Ta đã thấy tất cả.” Ông ngồi xuống một phiến đá thấp, đối diện, hai bàn tay đặt trên gối giống hệt dáng Huyền Mãng hôm qua. “Bốn ngày trước đêm rằm ấy, một người bạn cũ trong phái gửi cho ta một mẩu giấy. Chỉ một dòng: Trưởng lão dẫn Ngũ Tinh trận lên Thanh Lung đêm rằm. Ta đọc xong, ngồi dưới gốc thông suốt một ngày. Quan Hạc là thầy ta. Ba mươi năm trước chính ông ấy dạy ta dựng trận ấy. Ta biết ông ấy có thể làm gì, và ta biết nếu ta lên cảnh báo hai người thì sau này ta không còn chỗ nào trên đất này để sống.” Ông nhìn xuống đất. “Ta đã nói với mình rằng ta sẽ lên vào buổi chiều. Rồi buổi chiều ta nói đêm. Rồi đêm ta đã đứng ở rìa rừng, và thấy năm ngọn đèn sáng.”

“Ngươi đứng nhìn,” Huyền Mãng nói.

“Ta bước ra một bước. Chỉ một.” Giọng ông không run, nhưng từng chữ như vắt từ lòng giếng cạn. “Rồi ta nhìn thấy ngươi đỡ nhát kiếm thay cô ấy, và ta quay đi.”

Hang im lặng. Nồi cháo sôi lục bục. Huyền Mãng cố đứng lên, bàn tay phải chống vào vách, nhưng đầu gối hắn khuỵu xuống ngay khi vừa rời nền. Trần Mộc đỡ lấy hắn, và hắn gạt tay anh ra, rít qua kẽ răng.

“Ta sẽ xé ngươi thành từng mảnh…”

“Ngồi xuống.” Giọng nàng không to, nhưng Huyền Mãng khựng lại. “Ngồi xuống đi, Huyền Mãng.”

Hắn nhìn nàng, rồi ngồi.

Nàng không biết mình đang cảm thấy gì. Nàng có giận, một cơn giận nhỏ, lạnh, sắc như dao rọc giấy. Nhưng nàng cũng nhớ một con người đã ngồi nửa đêm bên ngọn đèn dầu đẩy chén nước về phía nàng mà dạy chớp mắt, kiên nhẫn như dạy một đứa trẻ đau.

“Tại sao bây giờ ông nói?” nàng hỏi.

“Vì Quan Hạc sắp đến, và vì ta nợ cô nhiều thứ hơn một lời xin lỗi.” Lăng Vân ngẩng lên. “Có hai điều cô cần biết. Điều thứ nhất, về cái gọi là Bạch Xà linh hồn.”

Ông kể. Phái Thanh Kiếm sinh ra từ những thanh kiếm khắc phù băng, loại kiếm hút hơi ấm của người cầm để hóa thành sương lạnh trên lưỡi. Một thanh kiếm tốt đổi lấy mười năm tuổi thọ, vì năm này qua năm khác, kẻ cầm kiếm lạnh dần từ đầu ngón tay vào trong. Các chấp sự tay lạnh ở tuổi ba mươi. Các trưởng lão khi qua năm mươi thì đi lại phải có người đỡ. Quan Hạc mất cảm giác ở nửa người bên trái, đeo găng da dày dù mùa hè.

“Cho nên ông ấy cần một thứ giữ hơi ấm ngàn năm,” Trần Mộc nói chậm, từ chỗ bếp lửa, nét mặt người đã hiểu một đơn thuốc khó. “Viên châu ấy.”

“Phải. Ông ấy tin rằng lấy nó ra khỏi linh xà sẽ sưởi ấm cả phái. Còn cô gái giữ nó thì…” Lăng Vân dừng, không nói hết câu. “Ta rời phái vì thế. Ta thấy ông ấy lấy hồn một con hồ ly để trị chứng cho chưởng môn, hồn không đủ, chưởng môn vẫn chết. Còn ta, ta tìm ra bài thuốc ôn cho chứng hàn độc, không cần giết ai. Ta đưa nó cho một người bạn là thầy thuốc ở Thanh Hà, cha cậu.” Ông nhìn Trần Mộc. “Quan Hạc gọi nó là thuốc phàm. Ông ấy nói những thứ cần đến một người ngồi bên mười năm không đủ để cứu cả một phái.”

Trần Mộc đứng yên, tay còn cầm muôi. Nàng thấy anh nhìn bàn tay mình, rồi nhìn Huyền Mãng, rồi lại nhìn tu sĩ. Anh không nói gì, nhưng nàng biết anh đang xếp hai mảnh ghép mà cha anh đã chép bằng mực đỏ.

“Điều thứ hai,” Lăng Vân nói, “là về trận. Ngũ Tinh trận cần năm người giữ năm đỉnh, mỗi người dồn hơi ấm của mình cho lưới. Nếu một đỉnh hụt tay, lưới rung và dội ngược về người đứng giữa. Quan Hạc biết điều đó nên ông ấy chọn người bằng lòng trung thành, không bằng tài.” Ông ngừng lại. “Lần này ông ấy sẽ đưa Thanh Phong vào đỉnh thứ năm.”

“Thanh Phong,” nàng nhắc.

“Ông ta không phải kẻ xấu. Ông ta cũng không phải kẻ dũng. Ông ta đi theo mệnh lệnh vì cả đời chỉ biết đi theo mệnh lệnh.” Lăng Vân nhìn thẳng vào nàng. “Mấy hôm trước ông ta nhận thuốc của Trần Mộc, ta nghe người ở chợ kể lại. Chắc đó là lần đầu tiên ông ta nhận thứ gì không thuộc phái.”

Huyền Mãng khịt mũi. “Còn gì nữa? Ngươi đã nói xong chưa?”

“Chưa.” Lăng Vân quay sang nàng, và lần này ông cúi đầu, không phải kiểu cúi đầu theo phép tắc. “Ta không xin cô tha. Ta chỉ xin cô biết rằng nếu cô đến nguồn nước, có chuyện ta chưa nói. Ta đọc được trong sách phái: những linh vật hóa người rồi trở lại hình cũ thường quên sạch cuộc sống làm người. Thân người cũ như sương gặp nắng. Cô sẽ nhớ ngàn năm, nhưng có thể không nhớ một năm ở Thanh Hà.”

Nàng ngồi lặng. Từ phía Huyền Mãng không có tiếng đáp. Hắn quay mặt vào vách, nhưng vai hắn nhích đi một chút, như người vừa nghe điều mình đã đoán mà không chịu thừa nhận.

“Có đúng vậy không?” nàng hỏi hắn.

“Ta không biết,” Huyền Mãng nói sau một lúc. “Ta chỉ biết ngươi phải về. Ta chưa nghĩ đến cái giá.”

Nàng quay sang Trần Mộc. Anh đứng bên nồi cháo, tay vẫn nắm muôi, không nói gì. Nhưng mắt anh nhìn nàng, đúng như hôm đầu tiên anh nhìn nàng ngồi đợi trước cổng: không xin, không ép, không giấu.

“Tôi chưa tha cho ông, ông Lăng Vân,” nàng nói. “Nhưng tôi cần ông ở lại. Ông biết trận và biết Quan Hạc. Chuyện còn lại để sau.”

Lăng Vân gật đầu, như người vừa được đặt xuống một gánh nặng đã mang suốt hơn một năm, rồi nhận ngay một gánh khác.