Chương 19: Lời Đồn Giữa Hè
Ông Triệu, người lái đò ở bến sông, được vợ và hai đứa con dìu đến Độc Y Đường vào một buổi sáng oi bức, khi ve đã kêu rát cả tai. Bụng ông chướng căng như cái trống, da vàng như nghệ, mắt vàng cả tròng trắng. Ba thầy thuốc trong thị trấn đã lắc đầu từ đầu hè.
Lê Nhi khám rất lâu. Gan ông cứng như một khối gỗ dưới tay cô. Cô ngồi xuống đối diện ông, nói thẳng điều cô thấy. Cô không chữa khỏi được bệnh này, cô chỉ có thể làm cho ông bớt đau, ăn được, ngủ được, và có thêm thời gian, có thể một tháng, có thể hai. Bà vợ nắm chặt vạt áo. Ông Triệu im một lúc, rồi gật đầu. “Một tháng cũng được. Tôi còn chuyện chưa dặn thằng lớn.”
Hai tuần ông sống ở gian sau. Cô cho ông uống thuốc giảm đau, thuốc lợi tiểu, cháo loãng nấu với rễ cỏ tranh. Ông dặn con trai chuyện chiếc đò, chuyện mấy đoạn sông nước xiết, chuyện bà mẹ nên được nghe lời. Rồi một đêm cuối tuần thứ hai, ông ngủ đi và không dậy nữa. Cô ngồi bên cạnh đến khi trời sáng, tay vẫn nắm cổ tay ông lạnh dần.
Sáng hôm ấy, người em trai của ông Triệu từ bến lên, thấy anh mình nằm bất động, liền hét lên giữa phố. Hắn bảo thuốc của cô độc. Hắn bảo anh hắn bước vào đây còn tự ngồi dậy được, nằm xuống thì thành xác. Ba người đàn ông cùng đi với hắn nhìn vào cửa Độc Y Đường, rồi nhìn tấm biển trên cao, và một người nói to, vừa đủ cho cả phố nghe: “Tên đã nói lên tất cả rồi. Vào cửa Độc Y Đường là vào cửa thầy thuốc độc.”
Câu ấy lan nhanh hơn dịch bệnh. Mười ngày sau, chiếc ghế dài ngoài hiên, nơi bình thường luôn có người ngồi chờ, trống trơn. Người phụ bào chế mới xin nghỉ về quê, mắt tránh nhìn cô. Hoa Hoa quét sân đến lần thứ tư trong buổi sáng, vừa quét vừa mím môi, rồi bỗng ném chổi xuống đất. “Cô nương đã nói thật với ông ấy ngay từ đầu rồi! Cô nương còn dặn bà ấy từng thứ!”
“Em nhặt chổi lên đi.” Lê Nhi nói. “Chổi vô tội.”
Chiều hôm ấy, có tiếng bánh xe nghiến lạch cạch ngoài phố. Cô ngẩng nhìn ra cửa sổ. Một chiếc xe bốn bánh có rèm gấm dừng lại giữa đường như đang chờ ai. Rèm vén lên một khoảng bằng bàn tay. Trần Văn Khải nhìn thẳng vào bên trong Độc Y Đường. Gương mặt hắn gầy hơn hồi cô gặp ở phòng khách nhà họ Vũ, và đôi mắt hắn không còn lanh lợi như khi đo phản ứng của người khác. Hắn nhìn cô như nhìn một người từ cõi chết trở về, rồi buông rèm. Xe lăn bánh đi, rẽ vào con phố rộng nơi bức tường cao quá đầu người của phủ họ Trần chạy dài.
Cô nhìn theo cho đến khi bóng xe khuất. Cô chưa từng nói với ai ở thị trấn này rằng mình từng là tiểu thư họ Vũ. Vậy mà người ngồi sau tấm rèm gấm kia, rõ ràng, đã biết từ lâu.
Hàn Tuấn đến vào tối. Hắn ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc, nhìn dãy ghế dài trống ngoài hiên qua khung cửa, rồi nhìn cô. “Ta nghe rồi.”
“Ai cũng nghe rồi.”
“Một lời của Lục tướng quân thôi cũng đủ cho cả phố này im miệng.” Hắn nói thẳng như báo giá thuốc. “Hoặc nếu cô không muốn nhờ ông ấy, ta có thể…”
“Đừng.” Cô đặt chiếc cân thuốc xuống. “Cả hai đều đừng.”
“Vì sao?”
Cô lau tay lên tà áo, chậm rãi. “Nếu tôi nhờ người khác dập lời đồn này, thì từ nay tôi sẽ không bao giờ biết Độc Y Đường có đứng được bằng chân của nó hay không. Tôi nói thật với ông Triệu, tôi chữa hết mức, ông ấy ra đi trong yên ổn. Nếu việc đó chưa đủ để người ta tin, thì tôi cần biết rằng chưa đủ.”
Hắn nhìn cô lâu hơn thường lệ. Hắn đã đứng dậy từ lúc nào, đến bên bàn, chỉ cách cô một sải tay. Cô cảm được hơi ấm từ vai áo hắn, và nhận ra mình đã quên mất vừa định nói gì.
“Anh đứng gần quá,” cô nói, nửa như thở ra. “Tôi nghĩ không ra.”
Hắn lùi lại một bước, đúng một bước, không hơn, không hỏi thêm. “Vậy đủ chưa?”
“Đủ.”
Hắn không cười, nhưng quanh mắt hắn giãn ra. “Ta sẽ đứng ở đây.”
Đến gần tuần sau, bà Triệu đến một mình, mặc áo vải đen còn mới, trên tay xách một rổ trứng gà và một bó rau. Bà đứng ở ngưỡng cửa rất lâu, như không biết nên bước vào bằng chân nào. Lê Nhi ra đón, mời bà ngồi vào chiếc ghế dài, ngay chỗ bà từng ngồi chờ chồng được khám.
“Tôi không đến để kiện,” bà nói. “Tôi đến để tạ ơn.”
Bà kể bằng giọng thấp và đều. Ông Triệu sợ chết. Ba thầy thuốc trước chỉ bảo ông ráng chịu, có người còn kê toàn thuốc đắt tiền mà không dám nói thẳng. Ở đây, cô nương nói thật ngay buổi đầu, cho ông biết còn bao nhiêu ngày, và đêm nào đau quá cô cũng ngồi cạnh. “Hai tuần ấy ông ấy nói hết những gì cần nói với con trai. Ông ấy chưa từng nói nhiều như vậy với tôi trong suốt hai mươi năm.”
Bà nhấc rổ trứng, đặt lên bàn. “Ở bến có người bảo cô nương hại ông ấy. Tôi bảo họ: ai nói thế thì ra ngồi một đêm cuối cùng bên giường ông ấy xem. Lúc cả bến quay lưng, chỉ có cô nương ngồi lại.”
Hôm sau, rồi hôm sau nữa, chiếc ghế dài ngoài hiên lại có người ngồi. Lúc đầu là hai người đàn bà ở bến, rồi một ông già ở quán rượu, rồi người em trai của ông Triệu cúi gằm mặt ngồi ở góc xa nhất, không nói một lời, chỉ đưa cho Hoa Hoa một gói tiền thuốc mà chị dâu hắn đã dặn trả.
Chiều đó Lê Nhi viết vào cuốn sổ bìa vải một dòng ngắn: Ca ông Triệu, ngày thứ mười lăm. Không cứu được. Đã nói trước. Rồi cô gạch một nét dưới hai chữ cuối và đóng sổ lại.