Chương 17: Bình Canh Buổi Sáng
Trận sương muối đầu tiên của mùa đông làm lá bạch chỉ ngoài sân đen thui trong một đêm. Sáng ra, Lê Nhi đang cạo lớp băng mỏng bám trên máng nước thì một chiếc kiệu nhỏ dừng lại trước cửa, hai người phu kiệu đỡ ra một người phụ nữ khoảng ba mươi tám tuổi, áo bông dày, đầu quấn khăn. Bà đi từng bước như trên mặt đá trơn, một tay vịn vai người hầu gái, tay kia ôm một cái bình sành nhỏ có nắp đậy.
Bà tự xưng là phu nhân họ Diệp, vợ chủ một tiệm vải ở phố bên. Ngồi xuống ghế, bà tháo khăn quấn đầu. Tóc thưa ở hai bên thái dương, da xám và hơi sạm ở cổ, môi khô nứt. Bà kể bằng giọng nhỏ và chậm. Tám tháng nay bà tê buốt hai bàn chân, tay run khi cầm đũa, tóc rụng từng nắm mỗi lần chải. Ngự y trong phố bảo bà khí huyết hư, kê toàn thuốc bổ. Càng bổ càng yếu.
Lê Nhi bắt mạch, rồi nâng bàn tay bà lên sát cửa sổ. Trên mỗi móng tay có những vệt trắng mảnh chạy ngang, vệt này cách vệt kia chừng một đốt gạo. Cô nhìn lâu hơn mức cần thiết, rồi hỏi nhẹ: “Mỗi sáng phu nhân ăn gì?”
“Chẳng ăn được gì nhiều. Chỉ có chén canh gà hầm thuốc bổ do em gái chồng tôi nấu. Cô ấy dậy từ lúc trời còn tối, nấu rồi tự tay bưng lên giường cho tôi, mười mấy năm nay chưa lần nào bỏ.” Giọng bà ấm lên. “Từ ngày tôi ốm, cô ấy bỏ hết việc nhà mình để chăm tôi. Cô ấy thương tôi nhất nhà.”
“Cái bình đó là gì?”
“Phần canh còn lại. Cô ấy dặn mang theo, uống buổi trưa kẻo nguội.”
Lê Nhi lấy từ ngăn kéo một chiếc kim bạc dài, đã đánh sạch. Cô mở nắp bình, thả kim vào, giữ yên khoảng mười hơi thở rồi rút ra. Đầu kim đã xám đen. Cô nhúng một chiếc kim khác vào chén nước đun sôi để nguội cho đối chứng, nó vẫn trắng sáng. Rồi cô lấy nước bồ kết chà mạnh lên đầu kim đen. Vệt xám vẫn không phai.
Hoa Hoa đứng sau lưng, hít vào một hơi. Lê Nhi không ngoái lại. “Hoa Hoa, ra trông quầy giúp ta.”
Cánh cửa khép lại. Cô kéo ghế ngồi đối diện bà Diệp, đặt chiếc kim đen lên mảnh khăn trắng giữa hai người. “Trong bình có tỳ sương, loại độc nhẹ và chậm. Mỗi ngày một chút, qua tám tháng, đủ để lấy sức của người khỏe nhất. Nó chưa vào đến tim phổi của phu nhân, nên vẫn còn chữa được.”
Bà Diệp nhìn mảnh kim không chớp mắt. Một lúc sau, môi bà run lên. “Không. Không thể là cô ấy. Cô ấy…”
“Tôi không nói là ai.” Lê Nhi giữ giọng thật bình thản. “Tôi chỉ nói trong bình có thứ không nên có. Ai nấu, ai bưng, ai đứng gần cái nồi, tôi không biết và tôi sẽ không đoán. Phu nhân hiểu cô ấy hơn tôi. Nhưng nếu phu nhân uống thêm mười ngày nữa, phu nhân sẽ không đi nổi.”
Nước mắt bà chảy xuống không thành tiếng. Bà nói đừng báo cho chồng bà, vì cô ấy là em ruột của ông, mồ côi mẹ từ nhỏ, và nếu chuyện vỡ ra, cô ấy chẳng còn nhà nào để về.
“Tôi sẽ chữa cho phu nhân trước,” Lê Nhi nói. “Chuyện còn lại để phu nhân quyết. Nhưng bảy ngày tới, phu nhân bảo nhà rằng thầy thuốc dặn nhịn canh, chỉ uống cháo trắng và thuốc của tôi. Cho người hầu gái của phu nhân tự đun nước và nấu cháo. Rồi để xem ai hỏi mấy lần một ngày: bao giờ phu nhân lại uống canh được.”
Bà Diệp ngước nhìn cô. Có thứ gì đó trong mắt bà vừa hiểu ra, vừa không muốn hiểu. “Cô nương không giận thay tôi sao?”
“Giận thì có.” Cô gói chiếc kim đen vào khăn. “Nhưng giận không bắt được người ta lộ ra. Cái đó cần kiên nhẫn.”
Mười ngày sau, người hầu gái mang đến một rổ hồng khô và một mảnh giấy, nét chữ nhỏ và run. Em gái chồng bà Diệp mỗi sáng đều hỏi bao giờ bà ăn canh lại được, ngày thứ tư thì không hỏi nữa, ngày thứ sáu người ta thấy cô ta chôn một gói giấy nhỏ dưới gốc cây mai trong sân. Ông chủ tiệm vải tự tay đào lên. Ông ngồi một mình trong phòng khách suốt đêm đó, và sáng hôm sau mời trưởng tộc đến. Cô em gái chồng được đưa về nhà một người bà con xa ở phương bắc, theo lời ông, sẽ không bao giờ quay lại phố này.
Lê Nhi đọc xong mảnh giấy, không thấy vui như người ta nghĩ cô sẽ vui. Cô để nó vào ngăn kéo, cạnh những mảnh giấy khác.
Tối đó, cô ngồi một mình ở bàn trong phòng bào chế, đốt thêm ngọn đèn thứ hai để ghi vụ việc vào cuốn sổ bìa vải. Hoa Hoa mang đến một chén trà gừng nóng, đặt cạnh khuỷu tay cô rồi lặng lẽ đi ra.
Cô nhìn khói bốc lên từ chén trà. Tay cô đã với sang ngăn kéo, lấy chiếc kim bạc mới, nhúng vào, trước khi cô kịp nghĩ vì sao mình làm vậy.
Đầu kim vẫn trắng. Cô cầm nó rất lâu.
Cô nhớ một đêm khác, ở một nơi rất xa, khi cô cũng ngồi trước một chén trà. Chén trà do người cộng sự mười lăm năm của cô pha, như mọi đêm khi hai người ở lại phòng thí nghiệm đến khuya để chốt kết quả cuối cùng. Vị hơi ngọt hơn thường lệ. Cô nhận ra điều đó sau ngụm thứ ba, và thấy tê dần ở đầu lưỡi sau ngụm thứ tư. Cô biết chính xác nó là gì. Cô biết chất giải độc nằm trong chiếc tủ kính cách cô mười bước chân. Hai chân cô không còn nghe lời nữa. Người đàn ông ngồi đối diện, người cô tin nhất đời mình, chỉ nhìn đồng hồ, rồi nhìn cô, rồi tiếp tục lật hồ sơ.
Cô nhớ rõ nhất không phải nỗi đau mà là sự bình thản của cái nhìn ấy.
Lê Nhi đặt kim xuống. Cô uống một ngụm trà gừng, nóng và cay, và ghi nốt dòng cuối vào cuốn sổ. Tỳ sương, tám tháng, canh gà. Người bưng bát là người được tin nhất nhà. Nhớ lấy: chữa trước, chờ sau, đừng vội.
Hoa Hoa thập thò ngoài cửa, tay vẫn nắm mép áo, không dám hỏi. Cô ngẩng lên, thấy cô bé nhìn chiếc kim nằm trên bàn, rồi nhìn chén trà, rồi nhìn mặt cô chủ.
“Vào đây,” Lê Nhi nói. “Ngồi xuống. Ta dạy em đọc chữ tỳ sương.”
Cô bé mừng rỡ ngồi xuống bên cạnh, mở cuốn sổ xanh. Nét bút của em còn run, nhưng chữ đầu tiên đứng thẳng hơn hẳn chữ cam thảo hôm nọ.