Chương 20: Chén Trà Đặt Trên Đá
Năm thứ hai trôi qua nhanh hơn năm đầu, vì ba người trong Các đã quen nhịp thở của nhau. Ba phái nhỏ phía nam gửi người lên học cách tiện ổ trục bằng Ngọc Thanh Trúc rồi đặt hàng thêm. Than trong kho không còn thiếu. Tiểu Đồng lớn thêm một đốt ngón tay, nói giọng trầm hơn, và cuốn sổ bìa vải của nó đã phải thay lần thứ ba.
Viện Cơ Quan im lặng suốt từ ngày cụ Lương đến. Triệu Cẩu nhắn lên một câu cụt ngủn: “Yên quá.” Tần Mặc đọc rồi đốt tờ giấy. Sống qua hai kiếp người, ông không tin vào yên lặng kéo dài.
Từ sau chuyến thăm của cụ Lương, cứ năm ngày một buổi sáng ông bắt hai đệ tử ngồi tháo những khối khóa lồng nhiều tầng do chính ông chế, bảo đó là bài học về khớp nối. Tiểu Đồng tháo từ ngoài vào trong, từng vòng một, đặt ngay ngắn lên tấm lụa. Tiêu Dực đứng bên cạnh, thỉnh thoảng nghiêng người nói khẽ một câu. Hai người cãi nhau ít hơn trước, và lần nào tháo xong cũng cười. Ông không nói bài học ấy để làm gì, cũng như ông chưa từng nói với họ bất cứ điều gì mà họ không cần biết ngay lúc đó.
Những đêm không ngủ được, ông vẫn đi xuống kho sâu.
Ba mươi mốt bậc đá, hơi lạnh bám vào gáy, ngọn đèn đặt lên chiếc bàn đá giữa phòng. Chiếc hộp gỗ tối màu nằm đó với tờ giấy dán ngoài ngả màu chè. Hai năm nay ông đã xuống đây bốn mươi bảy đêm, và đêm nào cũng gặp đúng một chuyện. Lớp thứ nhất là hàng chốt trượt, mở được. Lớp thứ hai là vòng xoay có khía, mở được. Đến lớp thứ ba thì vòng xoay đi đến nửa vòng là kẹt cứng, cố thêm một chút nữa nghe cả thân hộp rên lên khe khẽ như sắp gãy.
Đêm nay ông thử cách mới. Ông kéo lớp thứ nhất hết hành trình và kẹp nó lại bằng một sợi dây sắt cho khỏi tuột, rồi dùng cả hai tay vặn lớp thứ ba. Vòng xoay nhích qua điểm kẹt cũ một sợi tóc, rồi dội ngược lại. Ông chép kết quả vào cuốn sổ ký hiệu: cách thử thứ bốn mươi tám, kẹt. Ghi chú cũ ở cuối trang vẫn là câu ông viết hai năm trước: chưa đủ, tiếp tục nghiên cứu cơ quan học cơ bản.
Ông đọc lại dòng chữ dán ngoài hộp. Không được mở khi chưa đủ mạnh để hiểu những gì bên trong. Ông vẫn hiểu câu ấy theo cách duy nhất ông biết: mạnh nghĩa là giỏi hơn, là hiểu nhiều hơn, và ông chưa đạt đến mức đó.
Gần canh ba ông tắt đèn, leo lên. Ở đầu bậc đá cuối cùng, trên phiến đá phẳng cạnh cánh cửa sắt, có một bát trà đậy bằng chiếc đĩa nhỏ. Ông nhấc đĩa lên. Trà gừng, còn ấm.
Từ mùa đông đầu tiên ấy Tiêu Dực đã thôi mang trà đến tận tay ông. Cậu ta chưa bao giờ hỏi vì sao, chưa bao giờ nhắc lại cái đêm ông bảo đặt xuống bàn. Chỉ là một ngày nọ, ông thấy bát trà đầu tiên đặt ở đây, nơi ông luôn dừng lại cuối mỗi đêm, và từ đó bát trà luôn có mặt vào những đêm ông xuống kho. Cái bát biến mất khỏi phiến đá vào sáng hôm sau, được rửa sạch, trả về kệ bếp. Tiêu Dực không bao giờ có mặt khi ông lên.
Ông đứng uống hết bát trà. Trà ngon, nóng vừa đủ, hậu hơi ngọt. Ông chưa một lần nói với cậu ta một lời cảm ơn. Ông đặt bát xuống đá, đĩa đậy lại như cũ, và đi về phòng.
Sáng ra Cơ Cơ ngồi xổm trước bếp, vừa thổi lửa vừa kể chuyện, một thói quen mà Tần Mặc đã thôi cố sửa.
“Các chủ, hôm kia anh Dực hỏi em một chuyện lạ lắm.”
“Chuyện gì?”
“Anh ấy hỏi sao cứ mười ngày Các chủ lại xuống núi một lần mà chẳng bao giờ mang gạo hay muối về.” Cơ Cơ thổi thêm một hơi, tàn lửa bay lên. “Em bảo Các chủ đi chợ cá.”
Tần Mặc đang rót nước, bàn tay không khựng. “Chợ cá cách đây một ngày đường.”
“Dạ?” Thằng bé ngẩng lên, mặt lem tro. “Vậy em nói nhầm hả?”
“Anh ấy nói gì?”
“Anh ấy cười. Anh ấy bảo, chợ cá chắc ngon.”
Ông uống ngụm nước, đặt chén xuống. Người nhìn rìa một mảnh giấy mà dựng lại được cả cái hòm thì nhìn một người thầy xuống núi đều đặn mười ngày một lần cũng sẽ dựng lại được điều gì đó. Ông nghĩ đến chuyện đổi lịch đi. Rồi ông bỏ ý định đó, vì đổi thói quen là cách nhanh nhất để một người tinh ý biết có điều cần giấu.
“Đừng kể chuyện của Các chủ cho ai nghe,” ông bảo Cơ Cơ, không gắt. “Kể cả anh Dực. Kể cả khi họ cười.”
“Dạ.” Cơ Cơ lại cúi xuống thổi lửa, vẻ như vừa bị cướp mất một niềm vui nho nhỏ.
Buổi chiều, ông dặn Tiểu Đồng trông lò rồi xuống núi. Ngày thu nắng hanh, lá xoan bên đường rụng vàng, đạp lên nghe giòn. Đường từ Các xuống Thanh Nham ông đi đã hơn bảy mươi lần trong hai năm, đi bằng chân nhưng cũng bằng tai. Ở khúc quanh cuối cùng trước khi thấy mái nhà đầu làng, bao giờ ông cũng bắt đầu nghe thấy nó, tiếng ken két của chiếc khung cửi, vọng qua mấy bờ ruộng khô. Từ nhỏ đến giờ, tiếng ấy là thứ báo hiệu cho ông rằng mình sắp đến nhà.
Ông bước qua khúc quanh, đứng lại, và lắng nghe.
Trong gió chỉ có tiếng lá xoan. Không có tiếng ken két nào cả.
Ông đứng yên một lúc lâu, rồi đi tiếp xuống con dốc nhỏ dẫn vào ngõ.