ĐĐọc Truyện
Mage Hết Phép

Chương 11: Bà Đỡ Làng Harrow

Bốn ngày sau chuyến thăm của Aldous, một người phụ nữ lạ bước vào nhà thuốc lúc cửa hàng vừa mở.

Bà chừng năm mươi, vai quấn tấm khăn len nâu dính bùn tận gấu, hai bàn tay to khớp và đỏ như tay người quen ngâm nước lạnh. Trên tay bà là một giỏ trứng phủ lá chuối, loại giỏ người ta mang đến chợ chứ không mang vào một tiệm thuốc ở thành phố. Bà đứng giữa cửa nhìn quanh một vòng, rồi hỏi to, giọng của người quen nói chuyện qua tiếng sông và tiếng trẻ khóc:

“Ai ở đây làm ra thứ thuốc không cần pháp sư vậy?”

Elara đang đứng bên bếp pha chế, tay cầm cái thìa gỗ. Buổi sáng cô đã quên mất mình không còn nhóm lửa được bằng một cái búng tay, và lại đưa tay ra phía lò theo phản xạ. Nó vẫn đau như lần đầu, một cơn nhói rất nhỏ, không có gì để bám vào. Marta lặng lẽ đưa cho cô cục đá đánh lửa, như bà đã làm mấy chục lần, không nói một câu nào. Cô vừa đặt cục đá xuống thì nghe tiếng bà khách.

“Là tôi,” cô đáp.

Người phụ nữ nhìn cô từ đầu đến chân, nhìn chiếc tạp dề, nhìn đôi tay dính bột. Có vẻ bà thất vọng. Rồi bà đặt giỏ trứng lên quầy.

“Tôi là Odile, thầy thuốc làng Harrow. Cách đây hai ngày đường. Một bác đánh xe ngựa đi qua làng nói ở thành phố có chỗ bán thuốc giảm đau mà người thường dùng được, không phải chờ pháp sư. Làng chúng tôi có mười ba nóc nhà có người già đau xương, hai đứa trẻ sốt hằng tuần, và một đứa trẻ mười tuổi bị gãy chân hồi mùa xuân, đến giờ vẫn khóc khi trở trời.” Bà hít một hơi. “Pháp sư gần nhất đến làng mỗi tháng một lần. Một lọ thuốc kích hoạt có giá tám đồng bạc. Làng chúng tôi gom được từng này.”

Bà móc từ trong áo ra một túi vải, đổ lên quầy. Xu đồng lẫn xu thiếc, vài đồng bạc lẻ, và một chiếc khuy áo bằng bạc mà hẳn ai đó đã tháo ra góp vào. Elara đếm bằng mắt: không đến hai mươi đồng bạc.

“Đủ mua hai lọ,” bà Odile nói. “Tôi muốn mua nhiều hơn. Tôi mang cả trứng.”

Bà Mireille bước ra từ bếp thuốc, lau tay vào tạp dề. Bà nhìn đống tiền lẻ, nhìn giỏ trứng, rồi nhìn Elara. Không ai nói gì, nhưng cô hiểu ánh mắt ấy. Đó là câu hỏi mà bà luôn chờ cô tự đặt ra.

“Bà ở lại mấy ngày được không?” Elara hỏi.

Bà Odile chớp mắt. “Mấy ngày?”

“Ba ngày. Tôi sẽ dạy bà làm.”

Người phụ nữ nhìn cô như thể cô vừa nói bằng thứ tiếng khác. “Cô nói đùa. Thuốc của cô… bà chủ tiệm này nghe nói đã có người trả cả trăm đồng để mua công thức.”

“Công thức thì có,” Elara nói. “Nhưng bà không đọc được chữ, đúng không?”

“Không.” Bà Odile ngẩng cao cằm, nhưng cổ họng khẽ động. “Tôi chỉ biết đếm.”

“Đếm là đủ.”

Ba ngày sau đó, nhà thuốc Mireille có một học trò kỳ lạ nhất từ trước đến giờ. Bà Odile không đọc được tờ quy trình, vì thế Elara bỏ chữ ra khỏi nó. Cô vẽ lại từng bước bằng mực, theo cách bà Mireille đã chỉ cho cô, nhưng cô vẽ chậm hơn, kỹ hơn: một cái bát với ba vạch, mỗi vạch là một lần múc; ba hạt đậu cho một lượng bột; một bàn tay xòe cho thời gian đun. Bà Odile cầm tờ giấy lên, xem xét rất lâu, rồi nói:

“Cái này đun bao lâu? Tôi không có đồng hồ.”

“Mười phút.”

“Tôi không có mười phút.” Bà đặt tờ giấy xuống. “Tôi có bài ru. Con tôi nghe mười một câu là ngủ, và mười một câu thì lửa vừa nhỏ vừa đều. Bà đỡ làng chúng tôi vẫn đun theo bài hát.”

Elara ngưng tay. Cô nhìn bà, nhìn cái nồi đang sôi, và một cảm giác lạ lùng chạy qua người, thứ cảm giác cô chưa từng có ở Học viện, nơi mọi thời gian đều đo bằng đồng hồ cát chạm trổ. Cô đã đo mười phút ấy năm chục lần bằng đồng hồ cát và biết nó đúng. Bài ru của bà cũng đúng, cô kiểm bằng đồng hồ, lệch không quá nửa phút.

“Bà hát cho tôi nghe,” cô nói.

Bà Odile hát. Giọng bà khàn, lạc nhịp, nhưng câu hát đi theo hơi thở, và khi bà ngừng ở câu thứ mười một thì nồi thuốc đã đổi màu đúng như quy trình ghi. Elara cầm bút, vẽ thêm ở góc tờ giấy một chiếc nôi nhỏ với số mười một bên cạnh. Cái nôi ấy sau này sẽ có mặt trên mọi bản hướng dẫn của nhà thuốc.

Đến ngày thứ ba, bà Odile tự pha một mẻ mà không cần nhìn tờ giấy, chỉ liếc nó như người ta liếc mặt một người bạn đã quen. Cô nếm thử một thìa nhỏ, nhăn mặt, gật đầu. “Đắng giống thuốc của cô.”

“Đắng là đúng.”

Chiều hôm đó, bà Mireille gọi Elara vào bếp thuốc, đóng cửa lại.

“Cô vừa dạy cho một người lạ cách làm ra thứ hôm trước cô nói với Aldous là cô có quyền giữ,” bà nói. Bà không trách. Giọng bà giống giọng người đang cân hai quả cân thật lâu trong tay. “Hội sẽ lấy chuyện này làm cớ.”

“Cô Odile sẽ chỉ cho mười ba nóc nhà làng Harrow. Rồi họ sẽ truyền cho nhau. Tôi không giữ nổi nó trong bếp này dù có muốn.” Elara đặt cái muôi xuống. “Thưa bà, hồi tôi đến đây, không có ai chỉ cho tôi chỗ nào để học cách sống. Bà đã chỉ. Tôi nghĩ nếu tôi giữ nó, tôi sẽ thành cái hội mà tôi vừa rời đi.”

Bà Mireille nhìn cô thật lâu. Ngoài cửa, tiếng xe ngựa lọc cọc, tiếng bà Odile đang dặn Finn cách đóng nút chai.

“Vậy thì có một điều kiện,” bà nói. “Bà ấy phải gửi tin về. Mỗi tháng, có thể nhờ ai đó viết, hoặc chấm mực lên giấy, kể đã dùng cho bao nhiêu người, kết quả ra sao. Ta không bán thuốc để thấy người ta chết vì dùng sai.”

“Tôi cũng muốn thế.”

Sáng thứ tư, bà Odile lên xe với ba chai thuốc, một cuộn giấy vẽ buộc dây, một tập phiếu trống để chấm mực, và giỏ trứng đã vơi nửa vì Marta khăng khăng đổi nó lấy mật ong. Bà ngồi thẳng lưng trên xe, nhìn thành phố một lần cuối, rồi nhìn Elara.

“Cô không giống pháp sư nào tôi từng thấy.”

“Tôi không phải pháp sư nữa.”

“Tôi biết. Tôi nói đó là lời khen.”

Xe lăn bánh. Finn đứng ở cửa nhìn theo, đột nhiên huýt nhẹ.

“Cô Elara, nhìn kìa.”

Ở đầu phố, dưới bóng mái hiên tiệm bánh, có bốn người lạ đứng đợi, mỗi người mang theo một cái giỏ, một túi vải, một bầu rượu. Họ đã đứng ở đó từ khi nào, không ai biết.