ĐĐọc Truyện
Bạch Xà Linh Hồn

Chương 12: Khách Từ Phương Đông

Họ đến vào ngày thứ năm, đúng giờ chợ đông nhất, và chợ Thanh Hà lặng đi như có ai nhấc nắp vung.

Năm người đàn ông mặc áo xám xanh đi thành hàng chữ nhất, chân bước đều đến mức nghe được từng nhịp. Nón lá che nửa mặt, kiếm quấn vải thô đeo ngang lưng, tay giấu trong ống tay áo dù trời nắng nhẹ. Người đi đầu có dây đai xanh sẫm quấn ngang bụng, tuổi chừng bốn mươi lăm, mặt vuông, hai bên thái dương đã điểm sương. Hơi thở của họ tụ thành khói trắng đậm hơn người khác, kể cả khi họ đi qua sạp bán cháo nóng.

Nàng nhìn qua cánh cửa sổ phòng thuốc, tay vẫn cầm nắm rễ cam thảo đang cắt dở.

Người thứ ba trong hàng cầm một vật nhỏ bằng đồng, hình chiếc đĩa, đeo lủng lẳng trên dây. Lúc đi qua đầu phố, cái đĩa đứng yên. Qua tiệm vải, nó vẫn yên. Rồi cách phòng thuốc chừng mười bước, kim đồng đột nhiên rung lên, quay một vòng chậm chạp, và chỉ thẳng về phía cửa sổ nàng đang đứng.

Nàng thấy bàn tay chính mình trắng bệch quanh con dao. Thứ cảm giác đến với nàng không phải sợ hãi hẳn, mà giống như có ai đó đặt bàn tay lạnh vào nước nơi nàng đang đứng, và nước khẽ dịu xuống để đón bàn tay ấy. Cái đĩa rung, rung, người cầm nó cúi đầu nhìn, rồi liếc về phía phòng thuốc.

Đúng lúc ấy, Trần Mộc bước ra bậc cửa, hai tay bưng nia thuốc phơi, giọng sang sảng như mọi ngày: “Khách quan mua thuốc hay hỏi đường?”

Người cầm đĩa ngẩng lên. Người đàn ông đai xanh quay đầu lại, đôi mắt nhìn Trần Mộc rồi nhìn xuống nia thuốc.

“Chúng tôi tìm nhà trọ,” ông nói, giọng khô và đều. “Ông trưởng làng ở đâu?”

“Nhà họ Đỗ, cuối phố này rẽ phải.” Trần Mộc chỉ tay bằng cái nia. “Nhà ông ấy có buồng khách rộng, cơm canh cũng sạch.”

Ông gật đầu, quay đi. Cả đoàn bước theo, tiếng chân vẫn đều. Cái đĩa đồng còn rung nhẹ thêm một nhịp, rồi người cầm đĩa nắm nó vào lòng bàn tay, và nó lặng đi.

Nàng đợi họ khuất sau khúc quanh mới buông con dao xuống. Bàn tay nàng hơi run.

“Họ biết chưa?” nàng hỏi khi anh đẩy cửa vào.

“Chưa biết chắc. Cái đĩa đó chỉ cho họ biết có thứ gì lạ quanh đây, chưa chỉ ra nó nằm đâu trong căn nhà.” Anh đặt nia xuống. “Nhưng sớm muộn gì họ cũng gõ cửa từng nhà.”

Chiều xuống, có người đập cửa sau. Nàng mở ra thì thấy ông lão bán dầu đứng đó, mặt tái, hai tay xách một cái bao tải nhỏ, thở dốc như vừa chạy.

“Cô Tuyết.” Ông liếc quanh, hạ giọng. “Nhà tôi có cái hầm chứa dầu dưới bếp, thợ nào cũng không biết. Cô vào đó ở vài ngày, đạo sĩ đi rồi hẵng ra. Tôi mang bánh với nước cho cô.”

Nàng nhìn ông chằm chằm. Mới mấy tuần trước ông là người đã đến đây thì thầm với Trần Mộc rằng nên cẩn thận với cô. Giờ bao tải trên tay ông run bần bật.

“Bác nghĩ tôi là thứ họ tìm?”

“Tôi không biết cô là gì.” Ông lão gạt mồ hôi, cổ họng nghẹn. “Tôi chỉ biết con trai tôi nó ho ba tháng liền, ông Mộc cho thuốc mà không đỡ, cô Tuyết chỉ ông ấy cái cây trong khe đá. Giờ nó khỏi. Tôi già rồi, ăn muối đã nhiều, tôi không để người đã cứu con tôi bị mấy ông áo xám bắt đi mà ngồi yên được.”

Nàng đứng im trong khung cửa. Có thứ gì đó đang chảy chậm trong ngực, ấm, không phải trà.

“Cảm ơn bác.” Nàng nói. “Nhưng tôi sẽ không trốn. Nếu tôi trốn, họ sẽ nghĩ tôi có điều phải giấu. Với lại ở yên nhà bác, nếu họ tìm ra thì bác thành người chứa chấp.”

“Cô liều lắm.”

“Có thể.” Nàng cười nhẹ. “Nhưng ông Lăng Vân bảo thế.”

Ông lão cầm bao tải đứng thêm một lúc, miệng mấp máy, rồi thở dài, đặt bao tải xuống bậc cửa. “Thế thì lấy bánh mà ăn. Ít ra là để có sức.” Ông đi, bước chân loạng choạng nhưng thẳng lưng hơn lúc đến.

Tối đó, hai người ngồi bên bếp lửa. Trần Mộc nhấc siêu ra, rót hai chén trà gừng quế, chia cho nàng một chén. Nàng cầm chén, không uống vội, chỉ để hơi nóng thấm vào lòng bàn tay.

“Sáng mai tôi đến gặp ông ta,” nàng nói.

Anh không ngạc nhiên. “Ông Lăng Vân bảo thế.”

“Ông Lăng Vân bảo đừng chạy. Tôi nghĩ nếu họ phải tìm tôi thì họ sẽ tìm theo cách của họ, bằng cái đĩa và những câu hỏi dẫn dắt. Còn nếu tôi tới, tôi được quyền nói trước.” Nàng uống một ngụm. “Tôi không có sức mạnh để đánh. Chỉ có gần một năm ở nhà anh để họ nhìn vào. Tôi muốn họ nhìn.”

Trần Mộc đặt chén xuống, nhìn lửa cháy rất lâu.

“Nếu họ nghe, tốt. Nếu họ không nghe, tôi vẫn đứng ở đó.” Anh nói như đọc một đơn thuốc. “Tôi không biết đánh nhau. Nhưng tôi biết đứng, và biết kêu to.”

“Anh không phải đi.”

“Tôi đi.” Anh nhắc lại, giọng không to nhưng không có kẽ hở. “Cô đi một mình thì tôi đi cùng, đứng ngoài cổng nhà họ Đỗ. Cô vào, tôi đứng chờ. Nếu cô cần gọi, tôi nghe được.”

Nàng nhìn anh, nhìn ánh lửa soi đường nét mệt mỏi và cương quyết trên khuôn mặt. Nàng định nói gì đó, rồi thôi. Có những câu cảm ơn không nên nói thành lời, vì lời chỉ làm nó nhỏ đi.

“Vậy thì ngủ sớm,” anh bảo. “Ngày mai cô phải thức đủ sáng để nói chuyện với một người đàn ông không thích ai.”

Nàng nằm trong buồng nhỏ, nghe gió đông gõ vào cửa, nghe tiếng chuột chạy trong vách, và nhẩm đi nhẩm lại câu đầu tiên mình sẽ nói. Nhẩm đến lần thứ chín thì mắt nàng díu lại. Khi ngủ thiếp đi, tay nàng vẫn còn đặt trên chén trà đã nguội, như sợ ai lấy mất.