ĐĐọc Truyện
Trùng Sinh Làm Phản Diện

Chương 11: Mười Một Chiếc Bát

Mùa tuyết năm sau, Lệnh Hồ Cẩn trở lại đúng như lời hẹn, vẫn nụ cười phúc hậu ấy. Chỉ khác là lần này ông ta không bước vào đại sảnh. Ông ta đứng ngoài cổng, nhìn lên tấm biển Thiên Kiếm Tông đã bạc màu, và hỏi từ trên lưng ngựa:

“Vũ tông chủ nghĩ kỹ chưa?”

Vũ Thiên Hàn, mười tám tuổi, tay áo xắn cao vì đang chẻ củi, đáp: “Kiếm phổ không rời núi. Điều đó hôm trước thầy đã nói.”

“Bốn chợ dưới chân núi đều đóng cửa với quý tông. Ba tháng nữa, tuyết lấp đường, củi cũng khó mua.”

“Trên núi này có củi,” hắn nói, và vung rìu chẻ khúc gỗ làm đôi. “Còn có suối, có đá, có chổi. Tôi nghĩ bấy nhiêu đủ cho người biết bắt đầu từ cơ bản.”

Lệnh Hồ Cẩn nhìn hắn lâu hơn dự tính, rồi cười nhẹ, quay đầu ngựa. Từ nay ông ta không tới nữa. Thay vào đó là thư. Mỗi tháng một bức, càng ngày càng ngắn, và mức đãi ngộ kèm theo ngày càng thấp.

Tối hôm ấy, hắn đếm bát. Mười một chiếc bát sứ xếp trên kệ bếp, mười một người ăn cơm chung: hắn, bà Hứa, và chín đệ tử chưa chịu bỏ đi dù nhà họ chẳng giàu gì hơn. Ngày xưa kệ đó chật cứng, bà Hứa phải xếp bát thành hai tầng. Bà lặng lẽ múc cháo, mỗi người nửa bát, một nắm rau dại muối. Nồi cháo loãng đến mức nhìn thấy đáy.

“Đủ mười một,” bà nói, như đang tự an ủi. “Không thiếu cái nào.”

Cửa bếp bật tung, gió lùa vào làm ngọn đèn dầu run rẩy. Một đứa bé đứng ngoài ngưỡng cửa, người phủ tuyết trắng từ đầu đến chân, tóc dính băng, hai tay ôm một chiếc bát đất nung sứt quai. Nó khoảng mười hai tuổi, nhưng vai đã rộng ra như thanh niên, và đôi bàn tay đỏ tím vì lạnh to hơn bàn tay hắn.

“Cháu…” Giọng nó khàn, không tròn tiếng. “Cháu nghe nói ở đây nhận người.”

Hắn nhìn đứa bé hồi lâu. “Tên gì?”

“Lưu Khang.”

“Nhà ở đâu?”

“Hết rồi.” Nó cắn môi. “Lũ cuốn trôi cả làng, mùa thu năm ngoái. Cháu đi theo đường lên núi, hỏi người ta chỗ nào dạy kiếm. Họ bảo ở đây, nhưng bảo nơi này không còn gì.”

Không ai nói gì. Bà Hứa đã đứng dậy, múc một bát cháo to hơn bát ai khác, đặt xuống bàn. “Vào đi, cái thằng này. Ăn trước, hỏi sau.”

Lưu Khang ăn như người sắp chết đói, nhưng khi hắn đưa thêm nửa bát của mình sang thì nó giữ tay hắn lại, lắc đầu. Ăn xong, nó đặt chiếc bát đất nung lên kệ, cạnh mười một chiếc bát sứ. Mười hai chiếc, không chiếc nào giống chiếc nào.

“Biết quét sân không?” hắn hỏi.

Đứa bé ngẩng lên. Trong mắt nó có điều gì đó mà hắn từng thấy ở người khác vào một buổi sáng mười hai tuổi. “Biết.”

“Vậy sáng mai quét.”

Nó quét suốt đêm. Hắn thức dậy lúc gà chưa gáy, mở cửa ra thấy cả sân đã sạch tuyết, lối đi từ cổng tới đại sảnh phẳng phiu, hai bàn tay Lưu Khang nứt nẻ rỉ máu quanh cán chổi, và nó vẫn đang quét thêm góc sân nào đó mà chẳng ai nhờ.

Hắn không bảo nó nghỉ. Hắn lấy thuốc bôi cho nó, và nói: “Sáng nay bắt đầu học trụ bộ.”

Suốt một năm, Lưu Khang chỉ học đứng. Chân rộng bằng vai, gối chùng, lưng thẳng, hít vào xuống đáy bụng, thở ra xuống gót chân. Thanh kiếm gỗ nằm trong vỏ trên kệ, nó nhìn mà thèm. Một buổi chiều mùa xuân, nó không nhịn được nữa:

“Tông chủ, các huynh kia đều luyện kiếm thế rồi. Bao giờ đến lượt cháu?”

“Khi nào chân con đứng được một canh giờ mà không run.”

“Cháu đứng được rồi.”

Hắn lấy một nhành cỏ khô chọc nhẹ vào đầu gối nó. Chân nó lảo đảo, thân người đổ nghiêng như cây chuối bị gió. Lưu Khang đỏ mặt, lại trụ vững, mồ hôi lấm tấm trán.

“Bắt đầu từ cơ bản, đừng vội,” hắn nói. Câu sơ tổ, câu thầy, bây giờ đến lượt hắn. Hắn nhận ra mình nói câu ấy bằng đúng giọng của thầy, và thấy ấm lòng vì điều đó.

Hai năm đầu, cứ vài tuần lại có một chiếc xe thồ rách rưới lội tuyết từ phía nam lên, chở theo gạo lứt, muối hạt, vài bó thuốc, kèm những lá thư xấu và nghiêng, chữ viết như người đang chạy. Chu Nhân ghi trong thư những gì không thuộc về nồi cơm: “Mày ăn đủ bữa chưa? Quán vẫn mở đúng giờ. Chú tao đòi tăng giá trà, tao cãi, ông giận ba ngày. Khách buôn qua đây dạo này nói Lệnh Hồ Tông mua nhiều thuốc an thần với ngưng khí thảo, mua tận hai xe. Tao không hiểu mua làm gì nhiều thế.”

Hắn đọc đến dòng đó và đặt thư xuống bàn rất khẽ.

Dưới nữa là một đoạn ngắn: “Còn chuyện này nữa. Có mấy người áo xanh sẫm ghé quán, ăn nói lịch sự, trả tiền bằng bạc mới đúc. Họ hỏi đường lên phía đông bắc núi nhà mày, hỏi cả chỗ nào có nước. Tao chỉ bậy đường khác. Mày có đắc tội với ai không?”

Hắn nhìn tờ thư cho đến khi ngọn đèn dầu nhỏ lại. Áo xanh sẫm. Huyền Minh Cung. Trong bộ truyện, cái tên đó xuất hiện muộn, khi ba châu đã nghiêng ngả, nhưng hắn biết bọn chúng đã rải mầm từ rất lâu trước. Thiên Kiếm Tông nằm đúng ngã ba mà chúng cần.

Ba chữ “đừng làm gì ẩu” nằm ở cuối thư, gạch chân hai lần. Hắn lấy giấy bút ra viết hồi âm. Viết xong lại xé, viết lại. Cuối cùng chỉ còn lại một dòng, đủ để gửi đi bằng chiếc xe thồ sáng mai:

“Cứ chỉ bậy đường. Và ghi lại mặt họ.”