ĐĐọc Truyện
Bạch Xà Linh Hồn

Chương 10: Nói Thật

Một buổi tối cuối thu, gió bấc đầu mùa đã luồn qua khe cửa sổ bếp, nàng quyết định nói thật.

Không có chuyện gì gấp. Chỉ là những lời thì thầm ngoài chợ ngày một nhiều, ông lão bán dầu kể thêm đạo sĩ phương đông đã dừng chân ở bến đò cách đây hai ngày đường, và nàng nhận ra mình không thể cứ ngồi cạnh một người tử tế mà để người đó bị kéo vào chuyện của mình mà không hay biết gì. Nàng đã nghĩ suốt ba đêm. Cuối cùng nàng đi vào bếp lúc anh đang canh siêu thuốc, đứng sau lưng anh, hít sâu một hơi, rồi nói thẳng.

“Anh Mộc. Tôi nghĩ tôi không phải người.”

Tay anh vẫn đều đặn khuấy siêu thuốc. Mùi quế chi nồng nồng lan ra trong gian bếp nhỏ.

“Tôi biết,” anh nói, không quay lại.

Nàng đứng chết lặng. Cả bài nói nàng đã soạn trong đầu ba đêm, đủ các cách mở lời, đủ các cách giải thích, bỗng không còn chỗ dùng.

“Anh… biết từ lúc nào?”

“Từ chiều đầu tiên cô ngồi ngoài cổng.” Anh chậm rãi đặt muôi xuống, quay người, khoanh tay tựa vào bồ củi. “Trong thư của ông Lăng Vân chỉ có vài dòng. Dòng cuối ông viết: cô ấy không nhớ mình là ai, đừng gặng hỏi, chờ cô ấy tự nói. Nhưng mà cô ngồi đúng chỗ nắng chiều trên bậc đá, mắt cô lúc mặt trời xuống đổi sang màu xanh nhạt, tôi tưởng mình hoa mắt. Mấy tháng nay tôi nhìn kỹ hơn, nên không còn nghĩ mình hoa mắt nữa.”

“Anh biết mà vẫn dạy tôi mua hành.”

“Mua hành thì ai cũng cần học.” Khóe miệng anh cong lên. “Có cần tôi đợi cô nói hết không, hay tôi pha trà trước?”

Nàng bật cười, tiếng cười kỳ lạ vì không lường trước. Rồi nàng kéo ghế ngồi, kể.

Nàng kể từ bờ sông, bà Ngô, bàn tay không chai, tiếng chuột trong vách, rồi hang đá, vết khắc lạnh buốt, cái nhìn chớp lóe lúc nàng bay giữa trời đêm. Nàng kể điều tu sĩ nói: trận chiến bốn tháng trước đó trên đỉnh Thanh Lung, nhóm săn yêu từ phái Thanh Kiếm, linh vật ngàn năm không chết mà bị ép hóa thành người, mất gần hết sức mạnh và ký ức. Chỉ có cái danh hiệu người dưới núi đặt cho linh vật ấy là nàng bỏ qua, như bỏ qua một món đồ quá to để đưa lọt qua cửa. Nàng kể xong nửa canh giờ sau, cổ họng khô, và Trần Mộc đã châm lửa pha hai ấm trà gừng từ lúc nào.

“Tên thật của tôi là gì, tôi không biết,” nàng nói. “Cái tên Tuyết tự nhiên đến lúc anh cầm bút, không biết từ đâu.”

“Vậy thì cái tên đó cũng là thật.” Anh nói như thể đó là điều hiển nhiên nhất trên đời. “Có những cái tên người ta chọn, và có những cái tên nó chọn người.”

“Tôi sợ.” Nàng nhìn xuống đôi bàn tay đặt trên đầu gối. “Phái đó nói sẽ quay lại. Họ có thể đến đây. Họ có thể đốt nhà anh, hay làm gì tệ hơn, chỉ vì tôi ngồi trên bậc đá nhà anh.”

“Cô muốn đi à?”

“Không.” Nàng nhận ra câu trả lời đã bật ra trước cả khi mình nghĩ. “Tôi không muốn đi. Tôi chỉ nghĩ anh nên biết.”

Anh im lặng một lúc, ngón tay gõ nhè nhẹ lên thành bồ củi. Nàng đoán anh đang cân nhắc câu chữ, như khi anh cân thuốc.

“Tôi là thầy thuốc,” anh nói. “Cha tôi dặn từ khi tôi còn nhỏ, nghề này là nhìn thứ trước mặt mình, không nhìn cái tên người ta gán cho nó. Một bệnh nhân bị gọi là kẻ trộm, kẻ điên, kẻ ăn mày, thì trước hết vẫn là một người đang đau. Hơn nửa năm nay tôi nhìn thứ trước mặt tôi. Nó dẫn tôi qua đường rừng lúc nước ngập. Nó chỉ cho tôi cây thuốc tôi tìm ba năm. Nó hạ sốt cho một đứa trẻ rồi ngồi ngoài mái hiên, mệt đến không dám nói là mệt.” Anh nhìn thẳng vào nàng. “Tôi không biết trên núi nó từng tên gì. Nhưng tôi biết nó đang làm gì ở đây. Với tôi thế là nhiều hơn cái tên.”

Nàng không trả lời được ngay. Ngọn lửa trong bếp lách tách, ngoài hiên gió vẫn thổi rít qua hàng rào. Có một thứ ấm ấm đang dâng lên sau mắt nàng, không phải nước, nhưng rất gần với nước.

“Và còn chuyện này nữa,” Trần Mộc nói, quay lại rót trà. “Mùa đông sắp đến, và cô là loài rắn.”

“Tôi chưa nói tôi là loài rắn.”

“Cô thích nắng, cô nuốt cả trứng, chân trần đi trong sương, tay lạnh. Tôi đoán không khó lắm.” Anh đặt chén trà trước mặt nàng. “Cha tôi có một bài thuốc cho người lạnh trong người: gừng, quế chi, thêm một ít ngải cứu sao. Tôi chưa nghĩ ra cách tìm trong sách xem có dành cho loài của cô không, nhưng nó không hại. Cô uống thử, nếu thấy dễ chịu thì tôi sắc mỗi tối.”

Nàng nâng chén. Hơi nóng xuyên qua lớp sứ, bò lên cổ tay, và vị gừng cay cay làm khóe mắt nàng nhòe đi. Nàng uống một ngụm, rồi một ngụm nữa. Cái lạnh trong ngực, thứ nàng đã coi là bình thường suốt mấy tháng, dịu xuống như tảng băng được đặt cạnh lửa.

“Tôi không hứa sẽ nhớ lại được mọi thứ,” nàng nói khi chén trà đã vơi một nửa. “Có thể tôi nhớ ra mình từng làm những điều không tốt.”

“Thế thì ta cùng biết.” Anh ngồi xuống đối diện, hai tay ôm chén. “Cô không phải tìm một mình. Nếu cô muốn lên hang đá, tôi đi cùng. Nếu cô muốn hỏi ông Lăng Vân thêm, tôi viết thư. Việc của tôi là giữ cho cô không đói, không lạnh, và không bị ai ném đá giữa chợ. Còn chuyện cô là ai, cô tìm, tôi ngồi bên.”

“Ngồi bên,” nàng lặp lại, nghe lạ tai mà hợp ý.

Họ ngồi uống hết ấm trà trong tiếng gió. Nàng không nói thêm gì suốt một lúc lâu, và lần đầu tiên từ khi tỉnh dậy trên bãi đá, nàng không thấy cần phải nói.