Chương 2: Vách Đá Phía Đông
Sáng ngày thứ ba, Lâm Phong dậy trước tiếng mõ.
Đường lên vách đá phía đông nhỏ như sợi chỉ, rêu phủ trơn trượt, và anh bước lên nó bằng cặp đầu gối chưa quen leo núi của một thân thể mười lăm tuổi, thở dốc như ống bễ. Đến khoảng đất bằng lưng chừng, anh phải chống hai tay lên đùi đứng im một lúc lâu. Kiếp trước anh từng băng qua đỉnh núi này chỉ bằng một cái nhún chân. Kiếp này anh phải dùng cả mười ngón tay bám vào đá.
Tô Lệ đang luyện kiếm ở rìa vách.
Chị mười tám tuổi, tóc buộc đuôi ngựa bằng dải vải xanh đã bạc màu, áo luyện công vá hai mảng ở khuỷu tay. Thanh kiếm sắt trong tay chị mòn cán, nhưng mũi kiếm vạch ra những đường sắc gọn, thức này nối thức kia không để hở một khe. Bàn tay trái của chị luôn đưa ra trước một chút, các ngón xòe hờ, như thể lúc nào cũng sẵn sàng đỡ lấy ai đó từ phía sau.
Lâm Phong đứng nép sau tảng đá, không dám thở mạnh. Anh đã chuẩn bị hai đêm cho cuộc gặp này, sắp xếp sẵn vài câu mở đầu hợp với một cậu bé dự bị, vậy mà giờ cổ họng khô lại như bị bịt.
“Nửa nén hương rồi đấy.”
Tô Lệ không quay đầu, mũi kiếm vẫn vạch tiếp một vòng tròn. “Muốn học thì lại gần. Không muốn thì đi chỗ khác. Chị ghét bị người ta rình.”
Anh bước ra khỏi tảng đá, cúi đầu thật thấp. “Đệ tử Lâm Phong, dự bị mới lên núi. Đệ tử không có ý quấy rầy.”
“Dự bị thôi, chưa phải đệ tử.” Chị thu kiếm, quay lại, đánh giá anh từ đầu đến chân bằng cái nhìn thẳng thừng. “Gầy như que củi mà dậy sớm hơn cả đệ tử chính thức. Em muốn lấy lòng ai?”
“Dạ, không ai ạ. Đệ tử chỉ muốn xem.”
“Xem cái gì?”
“Xem sư tỷ luyện kiếm.” Anh nói thật, và chính vì thật nên giọng nghe ngập ngừng. “Bước chân của sư tỷ ở thức thứ tám rất đẹp.”
Chị nhướng mày. Có tiếng giày nện lên đá, ba đệ tử áo xám leo lên khoảng đất bằng, người đi đầu cổ dày vai rộng, cười nhăn nhở như vừa tìm thấy món đồ chơi.
“Sư tỷ Tô. Ngày nào cũng chiếm tảng đá phẳng. Hôm nay nhường cho bọn đệ một buổi đi.”
“Đá nằm ở đây trước khi cậu sinh ra, Mã Tiêu.” Tô Lệ đáp, không buồn nhìn gã. “Muốn tập thì ra mép bên kia.”
Mã Tiêu lướt mắt sang Lâm Phong. “Thằng nhóc nào đây? Dự bị à? Dự bị mà dám đứng ở chỗ của sư huynh…” Gã đưa tay ra, định xô anh một cái cho văng khỏi phiến đá.
“Sư đệ, lùi ra sau.”
Giọng chị bình thản, không cao. Chị đã bước lên chắn ngang trước mặt anh từ lúc nào, đôi vai gầy dựng lên như một bức tường nhỏ. Cán kiếm của chị gõ vào cổ tay Mã Tiêu một cái gọn lỏn, tiếng “cốp” khô khốc. Gã rú lên, ôm tay lùi hai bước, lầm bầm chửi rồi dẫn hai tên kia xuống núi.
Lâm Phong đứng chết lặng sau lưng chị.
Cùng một giọng nói. Cùng một câu nói. Anh nhìn tấm lưng áo vá khuỷu, dải vải xanh bạc màu, những lọn tóc mai lòa xòa đẫm sương, và phải cúi đầu thật nhanh vì mắt đã nhòe đi.
“Sợ à?” Tô Lệ quay lại, lần đầu cau mày. “Mã Tiêu chỉ to mồm thôi.”
“Dạ. Đệ tử… cảm ơn sư tỷ.”
“Cảm ơn gì. Chị ghét ồn ào vào giờ chị luyện.” Chị lục trong túi vải bên hông, ném cho anh nửa chiếc bánh bột ngô. “Ăn đi. Ngày thường không ăn nổi thì đến kỳ khảo hạch ngã lăn ra, người ta đuổi xuống núi. Hai tháng nữa đấy. Hạng đầu được vào lớp kiếm pháp, hạng cuối vào đội bảo trì quét dọn. Em tính vào đâu?”
“Đệ tử chưa nghĩ ạ.”
Anh đã nghĩ rồi. Anh cắn một miếng bánh khô khan, và vị ngô thô ấy sao mà ngọt lạ.
Ba tuần sau, toàn bộ đệ tử dự bị được gọi ra sân trước vào lúc bình minh.
Trần Khải đứng bên cạnh anh, xoa xoa hai cánh tay trần nổi gai ốc, miệng không nhịn được chuyện. “Này, cậu nghe chưa? Chưởng Môn tự mình ra nói chuyện với bọn mình đấy. Nghe mấy anh đệ tử cũ bảo, mùa đông năm ngoái ông ấy sốt ba ngày liền, mê man như sắp đi, rồi tỉnh dậy thì như người khác.”
“Người khác thế nào?”
“Thì bắt đầu đi hỏi tên từng người.” Cậu ta nhún vai. “Trước đó có ai thấy ông ấy hỏi tên ai đâu.”
Đúng vậy. Lâm Phong nhớ rất rõ. Từ Minh Hà của kiếp trước là một người đàn ông cao lớn, nóng tính, tin vào nắm đấm của chính mình hơn tin vào bất kỳ ai đứng cạnh, và suốt những năm ngồi trên chủ vị chưa một lần ông ra sân dự bị nói với đám trẻ mới lên núi. Mười năm sau, trong một mùa đông mà cả tông chỉ còn biết thở dài, ông trao lại chiếc ghế ấy cho anh.
Người bước lên bậc đá lúc này vẫn là vóc dáng ấy: vai nặng, áo vải xám, không đeo kiếm. Nhưng ông không đứng lên bục như một vị Chưởng Môn. Ông bước xuống, đi dọc từng hàng, hỏi tên từng đứa, hỏi nhà ở đâu, bữa sáng đã no chưa. Giọng ông trầm và chậm, khác hẳn người đàn ông gắt gỏng trong trí nhớ anh.
“Ta là Từ Minh Hà,” ông nói với cả sân, khi đã đi hết một vòng. “Ba năm nữa đại hội mười năm họp. Lần trước, Thiên Phong thua trắng trước Huyền Vũ Tông, thua đến mức các tông khác không buồn nhắc. Ta không hứa các ngươi sẽ thắng. Ta chỉ hứa một điều: ai ở lại, ngày lên đài sẽ không phải đi một mình.”
Bước chân ông dừng trước mặt Lâm Phong.
“Tên?”
“Lâm Phong, thưa Chưởng Môn.”
Ông nhìn anh lâu hơn một nhịp, như người đặt một khuôn mặt cạnh một khuôn mặt khác trong trí nhớ để so sánh. Có gì đó chợt chạm vào đáy mắt ông, thoáng thôi, rồi biến mất. “Lâm Phong,” ông lặp lại, rất khẽ. “Ta nhớ rồi.”
Ông đi tiếp sang người kế.
Anh đứng im, nghe tim mình đập từng nhịp nặng. Một cơn sốt ba ngày và một người đàn ông đổi tính. Anh nghĩ đến chính mình, và có một khoảnh khắc ý nghĩ chạy rất xa rồi bị anh kéo ngược lại. Phép lạ xảy ra với một người đã là quá nhiều, anh không dám mơ tới người thứ hai trong cùng một sân. Có lẽ người ta chỉ đổi tính sau khi nhìn thấy cửa tử.
Khi hàng ngũ tản ra, anh thấy Tô Lệ đứng cuối sân, tay giơ lên nửa chiếc bánh bột ngô, lắc lắc, nhướng mày hỏi có cần hôm nay không.
Anh bật cười, lần đầu tiên từ lúc tỉnh dậy ở chân núi này.